Tuesday, September 15, 2020

MƯA SÀI GÒN. ‘TẢN MẠN BÊN TÁCH CÀ PHÊ’ CÙNG NGUYỄN XUÂN THIỆP

Hoàng Kim Oanh

Nhà văn Hoàng Kim Oanh

mưa. mưa ở đây.
tôi ngồi đây. căn phòng. ngọn đèn.
laptop vẫn mở. cuốn sổ. lấp dần từng trang trắng.
tôi lấp dần tôi.
Sài Gòn mưa thu đang giăng giăng
bên này và bên kia biển rộng
mưa. mưa ở đây.
tôi ngồi đọc tôi cùng gió mùa
tôi ngồi đọc thơ nguyễn xuân thiệp
tôi ngồi đọc tản mạn bên tách cà phê
anh nguyễn thanh châu chuyển từ mùa đại dịch
mở. đóng. mở.
đêm trôi...
Sài Gòn mưa thu đang giăng giăng
bên này và bên kia biển rộng
Ôi sao quá nhiều điều quen thuộc như tôi từng trong đó
khi nguyễn xuân thiệp ‘nhìn những mùa thu đi’ hơn 60 năm trước
khi nguyễn xuân thiệp làm tôi rưng rưng hát trong trí nhớ
tội nghiệp thằng bé cứ thương mãi quê nhà, giàn thiên lý đã xa mãi ngàn
xa...
và đất trời Atlanta.
tara. tara.
gone with the wind
thức dậy. ngọt ngào.
miền nhớ.
mưa. mưa ở đây
bên này và bên kia biển rộng
tôi chìm đau trong ‘the house of the rising sun’; the animals. não nùng
giọng khê đặc ngươi ca sĩ thét gào trong gió rít ngoài song cửa.
New Orleans.
ngôi nhà của mặt trời mọc
 
ngôi nhà tội ác lưu đầy những đứa trẻ không bao giờ thấy mặt trời của
tương lai số phận
Oh mother, tell your children
Not to do what I have done
Don’t spend your life in sin and misery
In the House of the Rising Sun
New Orleans.
thành phố khai sinh nhạc jazz
chờ tôi.
New Orleans.
mưa. mưa ở đây.
bên này và bên kia biển rộng
tôi thấy các anh nguyễn xuân hoàng, đinh cường, tô thùy yên, thanh tâm
tuyền ngồi ở quán cafe ngon nhất vùng vịnh
(hôm nay Cali cháy rừng bụi mù mịt đêm giữa ban ngày
anh lữ quỳnh vừa chụp từ cửa sổ gửi qua messenger)
những cột khói. cột khói. cột khói.
San Jose. Santa Ana.
cuối tháng bảy rồi trời vẫn không mưa
- em quên luôn rồi cả tiếng mưa rơi...
mưa. mưa ở đây
tôi ngồi ở Sài Gòn
laptop. ngọn đèn, cuốn sổ tay.
ly cafe vừa khuấy.
nghe gió mùa Dallas
nghe sóng vỗ dọc dòng sông Mississippi
tôi ngồi ở Sài Gòn
tản mạn bên tách cà phê cùng nguyễn xuân thiệp
trong đêm
những con phố khuya nồng nàn hoa lý hoa lài. không ai trồng hoa sữa
trăng Pleiku, Dalat, Thanh Chương...
trăng Virginia, trăng Garland...
cồn cào đi về hướng gió
từ một bếp lửa quê nhà thương nhớ
mẹ ơi xa xôi...
còn có bao giờ con trở lại
con dế buồn khóc lạc giữa đêm mưa
mưa. mưa ở đây.
tôi ngồi đọc tản mạn bên tách cà phê nghe gió mùa phủ từng trang pdf
người thi sỹ tài hoa nặng lòng yêu thương một đời phiêu bồng lãng tử
 
chỉ còn nỗi khát khao một ngày nào nhặt bông khuynh diệp vàng khô rụng
đâu đó trên một góc phố gió mùa
đem đốt cho hương quê nhà ấm từng khuôn mặt bạn bè
bên kia
địa cầu thương nhớ
ấm lại trái tim mong manh
mưa. mưa ở đây.
Sài Gòn mưa thu đang giăng giăng
bên này và bên kia biển rộng
laptop. cuốn sổ. lấp dần từng trang trắng.
tôi lấp dần tôi.
đêm nghe quạ kêu
Lenore trở về?
Edgar Poe một trăm bảy mốt năm thức dậy
nevermore
nevermore
...
lang thang những trang mưa đêm
 
HOÀNG KIM OANH
14.8.2020



 

BÀI TIỄN BIỆT HUỲNH PHAN ANH,

 Huy Tưởng

 

Nhà văn Huỳnh Phan Anh

những sợi nắng ảm đạm
& ngọn gió cau mày.nép sau cơn tức ngực
trận mưa khản cuối mùa kiệt sức
& lời nguyện cầu đau ran lòng đất
từng xác ve cắm mặt vào đêm
những sợi nắng ảm đạm
& ngọn gió cau mày.nép sau cơn tức ngực
những sợi nắng ảm đạm 
& ngọn gió cau mày.nép sau cơn tức ngực 
trận mưa khản cuối mùa kiệt sức 
& lời nguyện cầu đau ran lòng đất
từng xác ve cắm mặt vào đêm
& bầy ngựa trắng hí lồng cánh rừng tím ngát 
vó câu tầm tả...
khi lòn qua khe đêm
anh không còn nhận ra chính mình
chỉ nghe rừng rực cơn khô cạn chạy ngược sống lưng
& anh thở hắt
đó là lời tín thác cơn hiềm oán của mặt trăng ?
khi nép dưới khe đêm
anh nhếch miệng cười phúng dụ
voici le temps des assassins!
& bầy ngựa trắng tháo chạy giữa hồi chuông
không về !

HUY TUONG
Vic 01/09/2020

Monday, September 14, 2020

VẾT THƯƠNG KHÔNG CHẢY MÁU CỦA CHÀNG

Trần Mộng Tú

 


 *Gửi Tác Giả Mặt Trận Ở Saigon - Ngô Thế Vinh

Chàng đã ra khỏi chiến tranh
Nhưng chiến tranh không ra khỏi chàng.
Như con dấu nung
Đóng vào trái tim chàng
Chàng cúi xuống ngực mình
Từ tốn bóc…
…vết rách thành những tờ rơi
Những tờ đầy thương tích
Những ngôi làng trơ trụi bỏ hoang
Những hố bom B52 cầy nát mặt đất
Không một bóng trẻ
Không một người già
Còn gì đau thương
Còn gì xúc động bằng
Trong hoang vu đổ nát
Có con người cõng một xác chết trên lưng
Trong gió bão mịt mùng
Trong ngôi chùa Miên hoang phế
Một người con của Chúa
Gửi hồn xác của đồng đội mình cho Phật
Ôi chiến tranh
Ôi vết thương thế kỷ
Chúa Phật có cùng ở đó không?
Một cuộc chiến không tên
Một cái chết không nhãn hiệu
Một người lính, nếu đứng bên này thì ta gọi là giặc bên kia

Con người không còn sợ thú dữ
Nhưng sợ chính đồng loại của mình
Có những điều sống suốt một đời người
Ta không sao hiểu được
Tại sao phải sanh Bắc tử Nam
Để lao vào giết nhau
Ai đặt ra câu phương châm kinh hoàng đó
Những cái chết khác thường và phi lý
“Chết vì tiếng cánh vỗ của trực thăng sà trên bãi.”
Nỗi ám ảnh những năm dài sợ hãi
Đó là cái chết lạ giữa chiến trường
Một cái chết không chảy máu
Vết thương dưới con dấu nung trên ngực chàng
Nếu bóc ra chàng còn nghe thấy được
Những tiếng hét đến lạc giọng của những người
bạn Đồng Minh
những người đã đến Việt Nam và mang về quê hương họ những hình hài
thương tật và những ác mộng bất tận
Họ không bao giờ trở lại cuộc sống bình thường
Chiến tranh vẫn đầy ứ trong những bình thân thể ấy
như bình nước sóng sánh hoài nhưng không chịu đổ
Dưới vết thương đó chàng còn bóc ra được
những vẩy khô…
…như những người bạn đã chọn ở lại
Họ thản nhiên làm bổn phận của họ bằng cả trái tim
cho đến lúc bị ruồng bỏ
Họ săn sóc bất hạnh của người khác và không nhớ là mình cũng bất
hạnh.
Còn điều gì nữa dưới vết thương này của chàng
 
Mỗi ngày chàng mất đi một miếng vẩy khô…
…Chàng không tìm lại được
Và chàng đã quên
Như những người lính đã chết và đã bị bỏ quên
“Khi những người sống quên người chết, thì người chết ấy, chết đi lần
thứ hai. ”
Thế mà đã có một thời
Khi từ cõi chết trở về
Những người lính đáng thương này
Phải đối diện với mặt trận thành phố
Từ rừng rú họ được đưa về thủ đô
Để bảo vệ trấn an những con người kêu gào chiến tranh
nhưng chính họ lại đứng bên ngoài cuộc chiến
Và người lính bỗng dưng biến thành con thú cô đơn
ngơ ngác giữa Mặt Trận Ở Sài Gòn
Chao ôi đã bao năm
Chàng ở lại
Chàng tù đầy
Chàng bỏ đi
Chàng đứng nhìn dâu bể
Chàng bóc vẩy trên những vết thương mình
Còn gì sót lại…
…Còn gì để cho đi.
Có trễ không cho một trở về.

tmt
Tháng 9-11-2020

HUẾ TRONG TRÍ TƯỞNG CỦA MỘT NGƯỜI RA ĐI

 Huỳnh Liễu Ngạn

                                                               Chùa xưa bên sông

    Cơn mưa rớt xuống trên hàng thông xa. Mùa này chắc Huế cũng đang mưa. Cơn mưa rả rích và da diết làm tôi thế nào cũng bước ra đường tìm một quán cà phê vào ngồi rồi nhìn mưa bay. Ở đây nơi tha phương này mỗi lần nhìn lại những kỷ niệm héo hắt đó. Huế vẫn còn những hàng cây ướt lạnh và vẫn in như có vết chân tôi đi qua cầu sớm mai. Huế mưa- trên dòng sông Hương lấm tấm những hạt, mặt sông đục hơn để không còn thấy bóng mình chao nghiêng, thật tội nghiệp cho Huế.

    Bây giờ đã xa- tôi nhắc lại Huế trong tâm tưởng của một kẻ lưu lạc. Về một quán xép bên đường. Nơi đó chỉ một ánh mắt nhìn và em mỉm cười che nón, chừng ấy cũng đủ thấy những thành quách trong Đại nội hiện lên mọi sắc màu hòa với tóc em dài làm nên bài thơ tình về Huế. Nơi có những chiều về bên tê Vỹ Dạ- em đạp xe qua Cồn Hến ăn một ly chè trên căn gác làm bằng tre- nhìn xa mấy hàng cau thẳng như vương thấu những áng mây trời bay qua. Thêm nữa, những ánh trăng rằm như sà xuống bên bờ lau lách làm rạng rỡ linh hồn Huế mỗi đêm chỉ vẳng tiếng xào xạc của lá giống như một tiếng thở than buồn héo ruột.

    Bây giờ thì còn gì để nói, những đêm Thương Bạc dong thuyền lặng lờ trôi với ánh đèn dầu trong khoang tỏa mờ. Tiếng chèo bập bềnh, tiếng nước róc rách như hoài vọng một thời xa xưa. Một thời mà bây giờ trong tôi chỉ là giọt sương loãng, đành mở to đôi mắt lắng nghe một giọng hò khoan hay điệu Nam ai Nam bình để mình còn rơi nước mắt cho Huế.

    Ở đây đang mưa. Mưa đất khách cũng không khác chi mưa Huế, nhưng sao cơn mưa này nó lạc lõng và bội bạc quá. Chỉ có Huế với cơn mưa rơi suốt ngày, thêm cái lạnh não nề đủ vừa để em choàng thêm cái khăn xám quanh cổ. Cái lạnh của Huế cũng dịu dàng để vừa cho môi em mím lại xuýt xoa. Cái lạnh của Huế cũng da diết để vừa cho em run lập cập dễ thương. Cái lạnh của Huế cũng đủ vừa thiết tha để đưa em đến trường với đôi guốc như chim nhảy trên những hạt nước buổi sớm mai và hàng cây trĩu xuống bên kia đường Lê Lợi thật sầu.

    Ngày tôi bỏ Huế ra đi. Huế đã có một dáng dấp úa tàn không thể gợi lại được một hình thể nguyên vẹn nào cả. Nó nứt rạn từng nơi. Khi tôi qua đường Duy Tân. Ở đó có trường Văn Khoa đã đóng cửa. Ngôi trường thật xinh như linh hồn của Huế, nằm chết bên cầu Trường Tiền, bên bờ sông Hương. Tôi ngồi xuống nơi bực thềm thật vắng vẻ của một ngày tàn. Nghe như đầu đây có tiếng sáo miệng của một mùa nhập học. Thôi thì đành đi để còn giữ một cái gì đẹp đẽ cho Huế. Dù dòng sông đã bị vẩn đục, thì con sông Hương trong lòng tôi vẫn còn chảy dịu dàng nhưng mạnh mẽ. Hai bên bờ những hàng phượng vỹ vẫn xanh xao chịu đựng cho một ngày mai. Hỡi em! Bún bò bây giờ chắc cay đắng hơn xưa, em có cắn dùm anh thêm vài miếng ớt đỏ để nuốt nỗi nghiệt ngã cùng anh. Bởi ở chốn lạ này anh vẫn còn có Huế trong từng bước đi, trong từng ý nghĩ. Dĩ vãng về Huế vẫn hiền hòa như đôi mắt em. Làm sao anh quên mỗi lần bước qua cửa Thượng Tứ, nơi đã bị đổ sập và nức rạn. Anh bước qua, chứng tích của một mùa Xuân như tội ác rõ ràng. Làm sao anh quên mỗi khuya đưa em về gặp cơn mưa đành trú chân nơi đó. Tóc em bây giờ chắc đã ngắn xuống với thân phận câm nín lạc loài. Sao như ngày nào em biết nói những lời nồng nàn của một mùa Thu đến bây giờ chắc đành phải câm lặng như Huế đã chịu đựng. Còn Đại Nội hỡi em! Đại Nội có còn rêu xanh bám quanh những bức tường cổ kính- những vết rêu như thời gian không làm xóa nhòa đi của Huế được. Nơi đó những kỷ niệm còn để lại với Huế những dòng chữ hẹn hò tuyệt vời của con gái con trai Huế lãng mạng một thời.

    Còn gì để nói cùng em. Hay là trong trí tưởng về Huế có ánh sao đêm Bến Ngự hay ngược dốc Nam Dao dẫn em đi lễ chùa. Chỉ chừng đó cũng làm anh nghe như mình đã mất đi tất cả. Anh mất tất cả trong đó có em đi dọc theo bờ cỏ úa bên tê công viên buồn, với những chùm bông giấy rụng xuống vai nhạt nhòa như cơn mưa phủ.

    Ở nơi đây con người chạy đuổi theo một cái gì đó thật vô tình. Anh không muốn nói đến, chỉ có quê hương vẫn ăn sâu vào tâm tưởng anh. Thêm những buổi tối dọc theo con đường dẫn em lên Ga thật hoang vắng. Nơi có những toa tàu hư rét nằm bên đường. Huế đó em. Em còn nhớ khi mình qua Đập Đá đi thật nhẹ để nghe tiếng gió thổi mát rồi nhìn qua thành phố- chợ Đông Ba và con đường đầy người đội nón lấp lánh như những cánh bướm lượn lờ nhộn nhịp. Thế rồi anh phải xa Huế- xa Huế đã mấy mùa Thu vàng rồi đó em. Nơi đất khách này anh thấy bơ vơ như kẻ lưu đày không nơi chốn. Anh đã mất đi một phần đời của anh, trong đó anh rất may mắn đã có em giữ lại cho anh một phần của Huế. Em giữ dùm anh rồi một ngày nào đó Huế sẽ vương lên và nước dòng Hương sẽ muôn đời dịu mát tắm gội những nhục nhằn đã qua. Phải không em!

 

HUỲNH LIỄU NGẠN

 

 

Saturday, September 12, 2020

ĐỌC ‘TIẾNG SÁO NGƯỜI EM ÚT’

Khuất Đẩu


Chân dung & tác phẩm Dương Nghiễm Mậu

Dù là một nhà văn được nhóm Sáng Tạo phát hiện, nhưng Dương Nghiễm Mậu không viết như Mai Thảo, nghĩa là không cách tân lối viết, không quá chú trọng làm sao cho mỗi chữ gõ lên nghe leng keng.
Ông có vẻ như một “phu chữ” kiên nhẫn “gánh” những con chữ như cách Hữu Loan gánh từng tảng đá, để dựng nên ngôi nhà chữ nghĩa của mình. Ngôi nhà ấy, mới trông rất bình thường nếu không muốn nói là tầm thường.
Nhưng bước vào trong, cái vừa hấp dẫn vừa làm ta ngài ngại, chính là không khí trong mỗi truyện, một không khí hơi lành lạnh, hơi u uất, hơi dằng xé. Truyện nào cũng đau đau, buồn buồn, để lại hay làm bật lên trong lòng người đọc những suy nghĩ, những băn khoăn thực khó gọi tên, nhưng rất gần và rất thực.
Như truyện có thể gọi là rất mỏng và rất nhẹ của ông mà tôi sắp nói tới đây: truyện Tiếng sáo người em út.
 
Truyện không hơn 10 trang in, chỉ có 3 nhân vật. Người anh cả, người em út và người cha vừa mới chết.
Người anh cả về thăm nhà không báo trước, nghe tiếng sáo của người em út không còn thô mộc mà nay đã chín, cảm thấy rất vui. Người anh vào nhà, thấy cha đang nằm, để yên cho cha ngủ. Nói chuyện với người em đang xúc lúa từ cỗ áo quan, mới biết người em gái kế đã chết. Nói về ông nội, về mẹ. Sau cùng người em út nhờ người anh cả giúp mình khiêng cỗ áo quan lên nhà trên. Người anh nhíu mày: “Mang lên làm gì?”. “Cho cha nằm”, người em nói. Người anh lặng đi đôi mắt mở lớn nhìn người em không chớp: “Cha chết rồi sao?”. “Cha đi tối hôm qua”. Người anh vụt bỏ chạy lên nhà trên, tiếng bước chân, tiếng cửa va đập rồi tiếng khóc oằn lên…
Những sự việc nêu trên tưởng là rất bình thường hóa ra rất kịch tính. Từng lớp, từng lớp như những cánh cửa gỗ trong một ngôi nhà cổ mở dần ra, để sau cùng dẫn người đọc tới cái nỗi đau òa vỡ của người anh cả: sau bao nhiêu năm mới về thăm nhà thì cha đã chết! Chỉ ba chữ khóc oằn lên đã cho ta thấy được cái bất hạnh nghẹn ngào của đứa con tự kết tội mình.
Nhưng nếu chỉ để kể lại một câu chuyện buồn như thế thì chắc tác giả cũng không muốn kể làm gì. Tác giả còn muốn hơn thế nữa. Muốn qua người em út nói đến cách sống và cách nhìn đời của người cha. Một người, cả đời không làm gì quấy, không có gì phải hối hận…cha nhẹ lòng khi nhắm mắt có con ở bên. Con hãy thổi sáo cho cha nghe. Và em đã thổi sáo từ đêm qua đến giờ…
Người em út mới đọc lướt qua, tưởng đó là một người vô tâm nếu không muốn nói là không giữ tròn chữ hiếu. Cha chết mà lại đi thổi sáo! Chẳng tẩm liệm, chẳng để cha mang theo một thứ gì ngoài những hạt thóc đựng trong ruột tượng của mẹ. Tự mình bồng cha lên đặt vào cỗ áo quan, để cha gối đầu lên đó. Cũng không ma chay, chỉ có bát cơm trắng mời cha cùng ăn với hai anh em. Cũng không trống kèn ỉ eo, chỉ có mỗi tiếng sáo đơn độc của mình!
Nhưng đó là một người con trai út rất hiểu cha, yêu cha và biết nối chí cha, dù giặc giã, dù trâu không còn một con cũng cố bám lấy đất vì đất vẫn chung tình cho họ từng hạt lúa. Khi người em thổi cơm, từng hạt gạo rơi xuống gặp phải lửa thành bỏng gạo, người em nhặt lên bỏ vào miệng chứ không để cháy thành than. Và tuy người em út bảo anh về thì em sẽ đi, nhưng cuối cùng: anh nghĩ em bỏ nơi này mà đi được sao? Ai cũng bỏ đi cả thì nơi này ai coi, ruộng ai cày và những người như anh lấy đâu nơi để trở về?
Người em út qua những cử chỉ, lời nói có vẻ không còn là một người em nhỏ bé nữa. Anh ta sống bên cạnh cha từ nhỏ, chứng kiến bao nhiêu cái chết, bao nhiêu đổi thay chẳng những đã trưởng thành mà còn trở nên già dặn, sâu sắc. Ta có cảm tưởng người anh cả đang nói chuyện với cha mình chứ không phải với người em út. Hay nói cách khác, chính người em út là hình bóng còn đọng lại của người cha.
Người anh cả, thời gian và đường xa đã dạy cho anh những gì? Chị bé đã chết, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đổi thay, anh đâu có sống với những điều đó? người mà mỗi lần nhắc tới anh, cha tép miệng rồi mỉm cười: nó có còn sống thì cũng như đã chết.
Người anh trở về ít nhiều mang mặc cảm tội lỗi với gia đình. Nhưng đó không phải là một người phá gia chi tử, không đàng đúm ngược xuôi mà bỏ nhà đi vì một mộng tưởng nào đó, cho dù là lạc đường dại dột. Người cha với lòng thương con, đã bênh vực người anh cả khi nói, anh đã sống thay cho cha.
Trong truyện Gia tài của mẹ, người mẹ chính là hình ảnh tượng trưng của một nước Việt Nam nội chiến từng ngày. Thì ở truyện này, tôi cũng thấy một nước Việt Nam qua hình ảnh của người cha nghèo dù trải qua bao đời vẫn bám giữ lấy đất và truyền lại ý nguyện đó cho thế hệ mai sau.
 
Truyện được viết tại Sài Gòn, 1974. Gần 40 năm sau, đọc lại mà giật mình. Những ruộng đồng Việt Nam, giờ rất thiếu đàn ông, chỉ có đàn bà và các người già là còn cố bám lấy đất.
Người anh cả ấy, giả dụ như ra đi từ sau 75 liệu lúc này trở về có còn được nghe tiếng sáo của người em út? Một tiếng sáo rất nhẹ nhàng nhưng là tiếng sáo nhẫn nhục của người ở lại. Tiếng sáo không than van, không oán trách, nhưng sao nghe rất bùi ngùi.
Vì bỏ nơi này mà đi được sao, nên tác giả sau 75 không ngờ lại là “người em út”, người sống với bao nhiêu đổi thay, bao người đã chết, quyết trụ lại nơi này dù biết rằng ô nhục, tù đày vì nếu không thì những người như các anh lấy đâu nơi để trở về?
 
Trên tôi đã nói, những con chữ của tác giả rất thô mộc. Không kéo lê thê với những tính từ trùng lắp không cần thiết. Tôi có cảm giác những con chữ ấy là những hạt gạo trên sàng, nghĩa là tác giả đã lọc lựa rất kỹ, nhất là những hạt sạn. Người khác, có thể vì tiếng sáo mà kết thêm hoa lá cành để có thể là tiếng sáo của Trương Lương, hay của Trương Chi. Nhưng ở đây: tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay tiếng sáo đã chín. Từ thô mộc/non nớt/chập chững đến đã chín là cả một khoảng thời gian dài. Những lần tiếng sáo cất lên, đều vui tươi thanh thoát, chỉ sau cùng, khi chôn cha xong, mới bi thiết.
Tiếng sáo ấy tuy phát ra từ hơi thở của người con út, nhưng thực sự là tiếng lòng của người cha. Vì thế, khi thổi xong, người em út đã cắm chiếc sáo trên mộ cha. Cử chỉ này gợi nhớ đến người xưa trả kiếm bên mộ. Lòng hiếu thảo của người em út thật khác người, bi tráng.
Tác giả cố ý không đặt tên cho các nhân vật. Chỉ nhắc đi nhắc lại, người cha, người anh cả, người em út. Vậy nên, người nào cũng có thể là người cha, người anh cả và người em út trong mỗi gia đình Việt Nam. Có nghĩa rằng ít nhiều người đọc bồi hồi thấy thấp thoáng hình bóng của mình trong đó.
 
Tiếng sáo nói lên được tiếng lòng của người cha, thì cỗ áo quan lại nói lên cả một khoảng thời gian dài từ ông nội với cái án xử bắn, với đứa con gái chết chùm một lúc bốn người không nhặt được xác để chôn, nó gợi nhớ đến một cuộc chiến tranh quá dài, dài đến nỗi không còn làm ai xúc động được nữa trước cái chết. Và tấm nhiễu đỏ, được chôn theo cha, phải chăng là máu và nước mắt từ nay hãy tan vào lòng đất để cho cây lúa lại mọc lên tươi tốt?
Nhiều người thường nói tới cái hiện sinh mà Dương Nghiễm Mậu chịu ảnh hưởng của các trào lưu phương tây. Tôi nghĩ, cũng chỉ là một chiếc áo mà chính họ cho là đẹp, là mới, muốn khoác lên tư tưởng Dương Nghiễm Mậu, thế thôi. Tư tưởng của ông rất Việt Nam, rất nhân hậu. Có ảnh hưởng chăng là cách viết, cách dùng câu chữ, cách dựng truyện của ông. Mỗi chi tiết đều phải thật cần thiết, phải sắp xếp sao cho thật khoa học. Từ chiếc sáo đến cỗ áo quan, cái ruột tượng của mẹ, bát cám lợn, bát cơm… đều được đặt đúng lúc đúng chỗ. Vì vậy, truyện không lan man mà chặt chẽ như một kịch bản phim. Trọng tâm của truyện là tâm hồn và nhân cách của người cha được bao quanh những lớp vỏ như một củ hành. Cái lõi cay nhất, nồng nhất nằm ở lớp vỏ tận cùng. Chỉ một cái ruột tượng của mẹ đựng đầy lúa để gối đầu cho cha, cũng đủ cho ta thấy ông yêu vợ đến thế nào. Và cũng chỉ có người con út mới hiểu được tình yêu đó của ông.
Tôi thấy cách viết đó phảng phất như E. Hemingway viết Lão ngư ông và biển cả. Cái bộ xương cá bên cạnh chiếc thuyền tơi tả kia nếu tác giả không đưa vào truyện thì coi như đã không có một Lão ngư ông và biển cả làm xúc động cả thế giới.
Truyện cũng gợi nhớ đến Malentendu của A. Camus, ở đó người em gái Martha đã nguyền rủa người anh vắng mặt của mình với tất cả căm hận, vì thế mới đưa đến ngộ nhận đến nỗi người mẹ giết con. Ở đây, người em không kết án người anh, tuy có ít nhiều trách móc anh đã bỏ nhà đi. Vì vậy, toàn bộ câu chuyện tuy có vẻ buồn nhưng không đến nỗi trở thành bi kịch. Vẫn có chỗ cho tình anh em, tình cha con, có chỗ cho sự dung thứ. Và đó là cái khác biệt giữa một Âu châu đổ nát sau thế chiến thứ hai với một Việt Nam sau một cuộc chiến tương tàn quá dài. 
Chỉ với một truyện ngắn này thôi, ta cũng đã nhìn ra được tầm vóc của một bậc thầy. Phải chăng vì vậy mà Vũ Hạnh đã dùng cái mã tấu “phản động” để “chặt” ông khi thấy tác phẩm này được tái bản?
 
06/12/2012
KHUẤT ĐẨU
 

TRANH CỦA DUYÊN

Fire
9x12 acrylic on canvas. 9.9.2020.


ĐI TÌM SỰ YÊN TĨNH VỚI ‘MẶT TRẬN Ở SÀI GÒN’

 Hoàng Ngọc Nguyên

Trong những ngày đang phải cố thủ tại gia một cách tuyệt vọng trước “kẻ thù vô hình” Corona virus giăng mắc, phong tỏa nơi nơi, “Mặt Trận Ở Sài Gòn” là một nguồn quên lãng lớn cơn đại dịch này. Trước hiện tại đang thêm phần đen tối không chỉ vì đại dịch Cô-Vy và nạn suy thoái/ lạm phát mà chủ yếu vì một chính tình thối nát, có khi người ta phải đi vay mượn một vài tia sáng từ quá khứ để có thể ngày qua ngày. Những câu chuyện cách đây cả 50 năm ở một nơi nay quá xa xôi bỗng dưng sống lại một cách da diết trong trí nhớ, trong con tim của mỗi chúng ta khi có “Mặt Trận Ở Sài Gòn” đặt đầu bàn ngủ (không phải gối đầu giường).

Tác phẩm này là một tuyển tập truyện ngắn, ấn bản 2020 là song ngữ Việt Anh, nhưng tôi vẫn xem đó cũng là một tuyển tập tạp bút, tạp ghi từ những đau nhức của một thời của thế hệ chúng tôi - thời đó chúng ta chỉ mới hăm mấy, ba mấy, nhưng nay đã bước qua tuổi cổ lai hi rồi. Thời gian có thể qua nhanh như vậy sao? Truyện ngắn ít nhiều vẫn có tính hư cấu (“truyện”), đặt chuyện từ mục đích của người viết muốn chuyển tải. Bởi vậy, có khi “truyện” có vẻ không thật và người xem sau khi gấp sách lại có thể nhún vai coi như xong.

Tạp bút thì nói lên những ghi nhận, suy tư, tâm trạng buồn vui, hoan hỉ, phẫn nộ của người viết từ những kinh nghiệm thực tế trong cuộc sống. Đối với một tác giả như Ngô Thế Vinh, cuộc sống từ thời thơ ấu đã từng trải từ bắc vô trung và vào nam; trường học đã đi từ Khải Định Huế đến Chu Văn An Sài Gòn, rồi trường Y Khoa; và những năm làm y sĩ tiền tuyến tại những chiến trường xa xôi, heo hút đẫm máu vùng Tam Biên (Việt-Miên-Lào) cho đến ngày mất nước... cuộc đời của ông đã thừa sự phong phú mà không cần vay mượn sự tưởng tượng.

Tạp ghi có lẽ là một thể loại thích hợp nhất cho Ngô Thế Vinh. Ông có đủ sự tự hào và tự tin về mình để nói lên và tìm cách diễn đạt những gì mình quan sát, nhận định, suy tư mà người nghe, người đọc có thể đón nhận. Mặt khác, ông cũng có đủ sự khiêm tốn cần thiết của một người hiểu được sự nhỏ bé, bất lực của con người trước “bể khổ mênh mông” mà “Nước mắt của Đức Phật” chỉ làm cho cái “nghiệp” của con người thêm đáng thương, đau buồn rõ ràng.

Rất nhiều người Sài Gòn trong những năm sau của thập kỷ 60 đã đọc tạp chí Tình Thương của sinh viên trường Y Khoa Sài Gòn, bởi vì trên mặt trận hỗn tạp của báo chí thời đó, Tình Thương không phải là một “sản phẩm thương mại”, nhưng lại có sức thu hút với người đọc đang tìm kiếm một tạp chí thể hiện những giá trị nhân bản tưởng như đang thất lạc trong cuộc sống đầy bất trắc. Ngô Thế Vinh từng ở trong ban biên tập, tổng thơ ký và chủ bút của tạp chí này, một nhịp cầu cho những bác sĩ tương lai đến với một xã hội thực sự tin “lương y như từ mẫu”. Chắc chắn Ngô Thế Vinh đã có những niềm tin, những đam mê lớn lắm mới cống hiến sức mình góp phần làm nên Tình Thương, và chính Tình Thương đổi lại đã góp phần định hướng cho anh suốt cả cuộc đời – đến với những người dân lành bị bỏ quên trong xã hội, hay những người lính ngoài trận địa chẳng mấy khi được những người hậu phương nhớ đến.

“Mặt Trận Ở Sài Gòn” là một tuyển tập gồm 12 “truyện bút ký”. Một nửa nói lên những trăn trở của một bác sĩ quân y ngoài tiền tuyến, đứng giữa làn tên mũi đạn, một nửa là những trăn trở của một người đã dấn thân vào việc tạo dựng một cuộc đời mới trên chốn “tạm dung” đất khách quê người, nhưng lại không đành để quá khứ lại đàng sau. Ít ra chỉ để nêu lên những câu hỏi cho dù câu trả lời càng ngày người ta càng không màng!  Ít ra để có thể mơ mộng hão huyền - dù không xua tan được những ám ảnh như ác mộng - “Sẽ rực rỡ mùa thu này” với “Giấc mộng con năm 2000”.

Mười hai “truyện bút ký” (Mặt trận ở Sài Gòn, Nước mắt của Đức Phật, Dấu ngoặc lịch sử, Hòa bình không sớm hơn, Giấc mơ Kim Đồng, Chiến trường tạm yên tĩnh, Cựu Kim Sơn – chưa hề giã biệt, Một bức tường khác, In Retrospect – nhìn lại, Người y tá cũ, Sẽ rực rỡ mùa thu này, Giấc mộng con năm 2000) mang cùng văn phong (le style, c’est l’homme), kể chuyện nghe như những lời tâm tình, lúc cao giọng như phẫn nộ, lúc trầm tĩnh như buồn bã, thể hiện những trăn trở mà tác giả, một người trong cuộc, muốn chia sẻ và muốn được tin cậy đón nhận, cám cảnh, đồng tình.

Có thể Ngô Thế Vinh, với thói quen nghề nghiệp, ưa xem xét cặn kẽ mọi dấu hiệu, triệu chứng, và tìm cách giải thích hết mức khi chẩn bệnh. Nhưng cũng rõ ràng, là một quân nhân tiền tuyến, ông mang những tình cảm sâu đậm có tính cách ruột thịt với đồng đội, những người cùng vào sinh, ra tử, và là một lương y, ông đau đớn vô kể khi thấy đồng đội ngã xuống không kịp nhắm mắt tại những nơi hoang địa rừng núi sâu thẳm. Ngô Thế Vinh là y sĩ trưởng của Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù. “Mặt trận ở Sài Gòn” đã thể hiện nơi anh con người của đồng đội, do đồng đội, vì đồng đội. Một tình đồng đội như chúng ta có thể thấy qua bức ảnh của Tình Thương, bốn sinh viên y khoa cùng các bạn đồng môn đảm trách tờ báo này mà thời đó tên tuổi chẳng phải xa lạ với dân Sài Gòn [Hình 1].

Hình 1: Toà báo SVYK Tình Thương 1 13 Nguyễn Bỉnh Khiêm Sài Gòn (1965),
từ trái: Bùi Thế Hoành, Trang Châu, Ngô Thế Vinh, Phạm Đình Vy [tư liệu Ngô Thế Vinh] 

Hay bức ảnh của những sĩ quan trong đơn vị Biệt Cách: Trung úy Nguyễn Sơn (liên toán trưởng các toán thám sát), Trung úy Nguyễn Ích Đoan (đại đội trưởng Đại đội 1 Xung kích), Y sĩ Trung úy Ngô Thế Vinh, Trung úy Nguyễn Hiền, sĩ quan Ban 2 [Hình 2]. 

                                                                              

Hình 2: Hành quân Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Dakto tháng 5, 1971, từ trái: Trung uý Nguyễn Sơn, Liên Toán Trưởng các toán Thám Sát, Trung uý Nguyễn Ích Đoan, Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 Xung Kích, Y sĩ Trung uý Ngô Thế Vinh, Trung uý Nguyễn Hiền, sĩ quan Ban 2 [tư liệu Nguyễn Hiền] 

Đã hẳn, tình đồng đội trong một đơn vị đặc biệt như Biệt Cách Dù hẳn đặc biệt hơn cả bởi vì nhiệm vụ đặc biệt của đơn vị “cách biệt” này cùng cách hành sự cũng đặc biệt của nó. Như tác giả kể lại một câu chuyện, Liên đoàn Biệt Cách Dù này đang tiến hành một cuộc hành quân vào tháng năm 1971, căn cứ xuất phát là Dakto, một vùng rừng núi thuộc tỉnh Kontum cao nguyên Trung phần. Đây chính là thời điểm quân Sài Gòn mở chiến dịch tấn công vào vùng Hạ Lào nhằm giải tỏa áp lực của Bắc quân trên vùng Trung nguyên và làm suy yếu khả năng của Miền Bắc đưa quân và khí giới xâm nhập Miền Nam. Chiến dịch này gây nhiều tranh cãi, chủ yếu là vì Mỹ muốn thử thách xem “Việt Nam hóa” là thế nào, Tổng thống Thiệu thì muốn phô trương tài lãnh đạo của mình trước cuộc bầu cử độc diễn trong năm, nhưng lại không biết “bảo mật” cho nên để lực lượng quốc gia chịu nhiều tổn thất. Các toán Biệt Cách Dù có nhiệm vụ thám sát và theo dõi sự di chuyển của Bắc quân dọc biên giới xuống tới vùng Tam Biên Việt-Miên-Lào trong mục đích khám phá đường mòn “Hồ Chí Minh” ở nơi “cùng cốc, thâm sơn”. Vùng Tam Biên này rừng núi trùng trùng điệp điệp, đi dễ khó về vì chẳng dễ tìm đường ra. Những nhóm “Biệt Cách” này chỉ biết trao sinh mạng cho nhau, và cho tử thần. Nếu không có nhau, làm sao người ta có thể sống sót được qua những điệp vụ như thế.

“Mặt trận ở Sài Gòn” là câu chuyện của một đơn vị Biệt Cách Dù đang chiến đấu gian khổ trong vùng rừng núi Tam Biên thì được đưa về thủ đô Sài Gòn. Tác giả ngậm ngùi và tự hào: “Không kể những người đã chết, chỉ riêng trong đám sống sót trở về - có thể nói họ xứng đáng mang danh anh hùng bằng chính những chiến tích lẫy lừng đi vào huyền thoại”. Lính tráng đều vui mừng vì có dịp về thành phố mừng tủi gặp lại gia đình và tha hồ vui chơi. Nhưng tác giả chẳng có gì thú vị vì hiểu rằng nhiệm vụ mới là một cuộc “chiến tranh trong thành phố”. “Chúng tôi trở về thủ đô giữa một không khí rục rịch biểu tình khởi đi từ những phong trào quần chúng đấu tranh chống chính phủ”. Tác giả đã trải qua những tháng ngày rất mệt mỏi trong cuộc nội chiến để bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Ông đã chứng kiến bao nhiêu hy sinh của đồng đội; ông cũng ngán ngẩm trước đối phương xem sinh mạng của “bộ đội” như cỏ rác. Và ông cũng đau lòng trước thống khổ của người dân trong vùng chiến, vừa sợ bom đạn chiến tranh, vừa lo khủng bố, vừa bị túng quẫn vì miếng ăn... “Người lính chỉ ao ước được cầm súng chiến đấu cho tổ quốc, hy sinh cho một lý tưởng cao cả, một chính nghĩa sáng ngời, mà khỏi cần phải bận tâm suy nghĩ điều gì. Nhưng bây giờ thì họ hiểu rằng, đã thất lạc và qua rồi sự bình an giả tạo sau những mỏi mệt trở về từ rừng rú. Rằng ngoài chiến trường súng đạn quen thuộc, họ còn phải đương đầu với một trận tuyến khác mỏi mệt hơn – đó là cảnh thối nát, bất công của xã hội mà dân tộc đang phải hứng chịu trong tốí tăm tủi nhục... Vậy phải lựa chọn chiến trường nào? Rằng không phải chỉ ở chốn xa xôi biên cương – mà đích thực chiến trường thách đố của họ phải là ở Sài Gòn”.

Câu chuyện sau đó, “Nước mắt của Đức Phật”, cũng có thể làm cho người đọc đã từng sống những ngày tháng tao loạn thời đó rơi nước mắt. Bối cảnh những truyện kể đều là thời “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nixon, hay đúng hơn là “giải Mỹ hóa”, (de-Americanization), tức lính Mỹ tháo chạy, bỏ rơi đồng minh, cho dù Nixon nói, “peace with honor”. Quan điểm của tác giả ngay từ thời đó đã rõ ràng: Mỹ đã quyết rút khỏi “tiền đồn”, vì Nixon đã có kế hoạch đi Nga, đi Tàu. Lúc đó là vào năm 1971, theo chỉ đạo của cố vấn Mỹ, quân Miền Nam đánh qua biên giới Campuchia để truy tầm “Cục R”, tức bộ chỉ huy của địch lập trên đất Miên để điều khiển cuộc chiến. Cuộc hành quân này như là bước đầu thử nghiệm “Việt Nam hóa”. Đơn vị Biệt Cách Dù được thả xuống đất Miên như lạc vào trong một khu rừng hoang không biết lối ra. Toán thám sát này vừa truy tầm vừa nhằm phá hoại địch, tác giả gọi đó là “một chiến tích lẫy lừng của các anh hùng vô danh”. Nhưng kết cuộc là thế nào. Tác giả viết: “Và suốt trong đêm hôm đó tại một ngôi chùa Miên bỏ hoang, có một người lính Công giáo Việt Nam kiệt quệ và đau khổ, quỳ gối bên xác một đồng bạn, mắt đẫm lệ hướng lên vẻ mặt an tĩnh của Phật thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người bạn xấu số sớm được giải thoát...”  Đây là câu chuyện ở Thị trấn Krek, Campuchia, sát biên giới Miền Nam ở Tây Ninh.  

Những truyện được viết trong thời chiến của Ngô Thế Vinh mà chúng ta đọc được qua tuyển tập “Mặt Trận Ở Sài Gòn” đều mang âm hưởng tương tự: như một tiểu thuyết chiến tranh với sự căng thẳng, chết chóc, mệt mỏi, tang thương, bi đát, anh hùng, và ai điếu... Rất rõ rệt Ngô Thế Vinh mang nặng nghiệp cầm bút (thời đó chưa có computer), ông không thể không viết trước những bức bách của thực tế cuộc sống, xã hội, đất nước, nhưng nếu không là y sĩ ở tuyến đầu, sẵn sàng dấn thân trong chốn trận mạc, đương nhiên ông không thể có những kinh nghiệm phong phú như thế để ghi lại – không chỉ những gì đã xảy ra mà cả những suy nghĩ, biến động trong nội tâm của ông. Diễn biến nội tâm đúng là phức tạp, khủng hoảng mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu nổi: ông vừa thấy cuộc chiến là sống còn cho Miền Nam vừa thấy cuộc chiến là phi nhân vì lãnh đạo Hà Nội thì bất nhân (đã thí mạng đến cả nửa triệu thanh niên) và lãnh đạo Sài Gòn thì “vô tâm” (quân đội, chính khách, lãnh đạo tôn giáo mãi lo quyền lực, quyền lợi của mình hơn quyền sống của người dân).

Truyện ngắn “Mặt Trận Ở Sài Gòn”, khoảng 5,000 chữ, xuất hiện đơn độc lần đầu tiên trên tạp chí Trình Bầy ngày 18-12-1971 và sau đó tác giả bị đưa ra tòa – chẳng bao lâu sau khi “Vòng Đai Xanh” của ông được trao giải thưởng. “Mặt Trận Ở Sài Gòn” bị khép vào tội có “luận điệu phương hại trật tự công cộng, và làm suy giảm kỷ luật, tinh thần chiến đấu của quân đội”.  Tờ báo bị tịch thu, bị “phạt vạ” và đình bản mấy tháng sau đó. Nhưng năm 1972 là năm Mùa Hè Đỏ Lửa, và vụ án đã nhanh chóng chìm vào quên lãng. Mãi đến sau này, vào năm 1996 khi tác giả tập họp một số truyện ngắn để có tuyển tập “Mặt Trận Ở Sài Gòn” xuất bản ở California, nhiều tác giả hữu danh như Nguyễn Xuân Hoàng, Tạ Tỵ, Phan Nhật Nam... lên tiếng, chia sẻ những trăn trở của tác giả vì đất nước, vì xã hội trong thời chiến. Nguyễn Xuân Hoàng cho rằng giữa “con người và tác phẩm” không có khoảng cách. Và Ngô Thế Vinh là một tác giả của xã hội. Ngô Thế Vinh cũng có dịp bộc bạch tâm sự của mình trong một số bài phỏng vấn dài của tạp chí Bách Khoa và của nhà báo Nguyễn Mạnh Trinh.

Như thế, nay chúng ta có thể nói thêm gì đây?

Người đọc nay có thể nhìn lại để thấy “Mặt Trận Ở Sài Gòn” không chỉ là tiểu thuyết chiến tranh mà còn có một nội dung chính trị sôi sục của một người đối kháng vì lương tâm. Chính trị là một nội dung mà tác giả đã chất chứa trên từng trang giấy của từng truyện. Một điều chúng ta đều có thể thấy nhưng ít người viết tiện nói ra, nói thẳng, nói thật, đó chính là sự “bất túc” của lãnh đạo Miền Nam cho nên cuộc chiến đã trở thành một cuộc phiêu lưu ngày qua ngày thay vì là một Hội nghị Diên Hồng tập họp quần chúng trong một cuộc chiến sống còn của đất nước. Không chỉ là nhân chứng, Ngô Thế Vinh là người dấn thân ở chốn trận tiền. Hiểu rất rõ sinh mệnh mong manh của người cầm súng. Cho nên không sợ mang tiếng “phản chiến” ông có quyền đặt những câu hỏi chính trị. Khi không hiểu đúng và đủ nội dung và ý nghĩa của chính trị, nhiều người - nhất là giới văn nghệ sĩ - ngại ngùng và muốn tránh xa “chính trị”.  Nhưng khi hiểu chính trị chụp lên đời sống của tất cả mọi người, quyết định sự sống còn của con người, của xã hội, của đất nước, là sự mưu tìm dân chủ, tự do, nhân quyền và công bằng xã hội, thì đó là điều người viết không thể tránh né. Và hẳn sai lầm khi tránh né.

Quyết định của Ngô Thế Vinh có một ấn bản song ngữ giữa năm đại dịch này bởi thế đáng hoan nghênh. Không chỉ vì đó là một nỗ lực táo bạo, phi thường mà vì ông nghĩ đến chuyện gởi gắm cho những thế hệ những đời sau một di chúc xứng đáng. Dĩ nhiên, càng ngày người ta càng ít đọc.  Mong muốn những thế hệ trẻ cầm sách về lịch sử hay chính trị đất nước Việt Nam trước đây đúng là chuyện “giấc mộng con”. Cũng như muốn người Mỹ phải hiểu rõ hơn lịch sử và chính trị của Hoa Kỳ để cho nội chiến đa chủng, đa văn hóa, thực sự chấm dứt. Nhưng Ngô Thế Vinh bao giờ cũng là người sống trong giấc mộng con người phải tốt đẹp hơn để xã hội tốt đẹp hơn.  

Đọc “Mặt Trận Ở Sài Gòn”, chúng ta tưởng chừng như đang nghe thổn thức “Tình khúc trên chiến trường tồi tệ”. “Mặt Trận Ở Sài Gòn” hay “Chiến trường tồi tệ” (tác giả là Ngô Đình Vận, người bạn ở Saigon Post) sẽ chẳng thế nào rời khỏi tâm trí của những người đã sống một thời đầy đau nhức đó, và nay đã là một ám ảnh đau buồn khi chợt nghĩ ra rằng chúng ta chỉ có một thời để sống.

HOÀNG NGỌC NGUYÊN *

Utah, September 5, 2020

   *Tốt nghiệp Cao học Hành chánh (Sài Gòn), đã qua các trường Hertford College (Oxford) và David Eccles School (University of Utah). Theo đuổi “nghiệp báo” rất sớm, chính thức vào nghề với The Saigon Post ( với Chủ bút Trần Nhã) từ 1968 tới 1975. Tham gia nhóm nghiên cứu đổi mới kinh tế của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh trong những năm 80. Sang Mỹ, tiếp tục viết báo về các chủ đề kinh tế, cộng tác chặt chẽ với The Việt Mercury News, Việt Tribune, Saigon Nhỏ, Bút Tre và hiện định cư tại ti ểu bang Utah.