Saturday, August 22, 2020

ĐÊM. NGHE QUẠ KÊU

nguyễnxuânthiệp

Quạ trong trăng. Nguồn:Internet

Trời đã  sang thu… Những bóng quạ đen đâu từ xa xưa bỗng lởn vởn trong không gian mờ tối.
Vâng. Ngày nào người bạn nhỏ gởi email nói:  “Vùng đất, nơi bà Margaret ở, trong truyện kể dân gian gọi là đất của quạ và diều. Mỗi sáng mỗi chiều, mở cửa sổ nhìn lên ngọn đồi Twelve Oaks, em đều thấy quạ họp từng đàn bay rợp, đáp xuống và kêu la. Và có đêm trăng sáng, nhìn ra vườn khuya, thấy bóng một con diều hâu (hawk) đậu trên ngọn cây khô, im lặng và cô đơn…”
   Đoạn văn trên gợi cho Nguyễn viết bài văn này khi đêm qua vừa nghe vẳng một tiếng quạ kêu trong vườn khuya…
  
Từ Ô Y Hạng rủ rê sang
Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng…
    Chắc chắn bóng quạ đen kêu đêm qua trong khu vườn trụi lá của tôi chẳng phải là những con quạ đến từ bài thơ đường luật của Quách Tấn tiên sinh, lại càng không phải là những chú quạ từ Ngõ Áo Đen (Ô Y Hạng) nào đó, nơi những bác thợ nhuộm ra vào sớm tối. Cũng không phải là bóng ác điểu đậu trên nấm mồ Bích Khê ở Thu Xà Quảng Ngãi, như thi sĩ đã có lời tiên tri lúc sinh thời. Chú quạ trong bài thơ không kêu một tiếng nào -dường như là vậy. Chú im lặng. Tuyệt im lặng. Như cái chết. Như mệnh số của thiên tài.
   Mệnh số. Có không? Không ai biết. Như Edgar Poe, chỉ còn nghe nevermore (trong The Raven - Con Quạ). Only this, and nothing more… Nó là vọng âm Lenore, tên người yêu yểu mệnh của thi sĩ. Từ nay mãi mãi không thấy nhau. Mãi mãi. Trong âm vang của tiếng gọi Lenore, Nguyễn cũng muốn gọi về một mảng quá khứ của thời xanh xưa. Hỡi nàng Đường Uyển trong Vườn Thẩm bên cầu cùng Lục Du - chỉ có những trái thông khô lăn bên triền dốc. Và bóng quạ chợt bay qua, tiếng kêu vọng lại dưới trời đêm. Nevermore. Thơ ai khắc trên đá tảng và trên vỏ cây còn mùi nhựa ngái. Còn không? Nevermore. Chỉ là mùi hương đã ở ngoài trí nhớ người.
   Ô hay! Tôi lại làm thơ nữa rồi. Lòng những tưởng sẽ dừng lại ở dòng viết này. Như một khúc ly ca. Nhưng hốt nhiên, tiếng quạ trong vườn khuya đêm qua khiến liên tưởng đến nàng Lenore của Edgar Poe và nàng Đường Uyển của Lục Du. Đồng thời nó cũng gợi lên những bóng quạ đen trên lưu đày thời miền Nam đổi chủ. Và bóng quạ đen trên sân nắng một buổi trưa khi còn ở Mira Mesa, San Diego. Như vậy tại sao không viết tiếp để gom tất cả lại thàng một Tứ Đại Oán thời nay. Vậy xin tiếp nối sau đây.
   Thi sĩ Phạm Công Thiện đã “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” và đã nhìn thấy những bóng quạ đen. A, những con quạ đen -ở đâu vậy cà, Greenwich Village, NY- hay từ ngõ áo đen Ô Y Hạng- những con quạ đen vừa đi vừa té ngã, xiêu vẹo –như bóng triết gia ngộ chân lý (?) -lại có những con đầu trọc chừng như vừa qua khổ dịch đội đá bắc cầu cho đôi lứa yêu nhau ngày nọ?
   Thi sĩ Phạm Công Thiện “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” và thấy được những hình ảnh vừa âm u vừa thơ mộng, lại vang vang tư tưởng của triết gia. Riêng Nguyễn và các bạn đồng hội đồng thuyền đã đi qua hết cả ba ngàn đêm hoang vu trên mặt đất quê nhà thời đổi chủ và đã thấy những bóng quạ đen như ác mộng trên phần kiếp của mình. Thuở ấy, những thân tù xanh lướt như rau tàu bay, như ngải đắng của vùng gió Mán mưa Tày, soi bóng xuống mặt nước xanh chàm của Thác Bà  cùng với bóng những cây trầm thủy. Những cái bóng ấy, dừng lại một hai nơi, rồi lại đi khi có “lệnh trên” (đây là trên “khung”, bộ chỉ huy trại tù của VC) vì kẻ thù từ Trung Quốc tràn qua bám theo đuôi ngựa. Đi, đi… Qua đồi sắn, nương khoai, ruộng bậc thang và bóng nhà sàn vọng tiếng mỏ trâu trong chiều, qua những đồi cọ dưới trời Hà Tuyên nắng rực trên vai áo rách bạc màu, hướng về những đồi chè Bắc Thái. Dừng lại rồi đi tiếp vì kẻ thù vẫn bám riết. Đi, qua ngã ba Đồng Lộc về tới Thành Đá Xanh Thời Trung Cổ -Thanh Chương, Nghệ Tĩnh.
   Vâng. Ngày ấy, năm 1979, Nguyễn và các bạn làm thơ làm nhạc bị giam ở Thanh Chương, Nghệ Tĩnh  -có Hà Thượng Nhân, Vũ Đức Nghiêm, Tô Thùy Yên, Chu A Hạnh (ôi, các bạn đều đã ra đi), Nguyễn Trung Dũng, Xuân Bích…- cùng khoảng một ngàn anh em khác. Thanh Chương là vùng đất khô cằn, núi đá trùng điệp, ngay bên cạnh trại cũng có một ngọn núi đá. Từng ngày, tiếng mìn phá núi vang dội, đôi khi có cả những cục đá to rơi kinh hoàng trên mái trại. Từng ngày, anh  em bạn tù dùng xe cải tiến (xe cút kít) đi xúc đá, chở đá. Cả một vùng đá núi khô cằn, cỏ cây xơ xác. Và những cơn gió Lào trong mùa nắng cháy không ngớt thổi về làm đỏ hoe con mắt, khô héo ruột gan tù.  Ở đây, chỉ khoảng một năm, đã có ba ban tù rũ áo: Lê Thơm, Hậu và một người nữa không nhớ tên (có phải là Nghĩa?). Đây là đất của diều và quạ. Đêm thường nghe vọng
Ác điểu ngày đêm gào xáo xác
Dường như cả thế giới lâm chung
                            (Tô Thùy Yên)
Đêm qua. trăng ngủ. đầu ngọn khuya
Quạ quắp. trái tim ta. lên núi
                             (NXT)
   Như thế đấy, bóng quạ kêu trong đêm nguyệt tận nào phải “nguyệt minh tinh hi… ô thước nam phi”  như trong bài phú Tiền Xích Bích của ông Tô Tử ngày xưa.  Cũng không phải tiếng quạ trên bến cây phong “nguyệt lạc ô đề…” như trong Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế. Ôi, tiếng quạ kêu dưới những lán trại xác xơ trong thành đá xanh ngày ấy. Rồi cũng ở Thanh Chương Nghệ Tĩnh, những trưa tù đốt rừng, hừng hực nóng, khói và sâu bọ cuồn cuộn lên, khiến lũ quạ bay đảo đầy trời. Chúng kêu rân, họng đầy máu… Tiếng kêu của những phù thủy áo đen ấy, tưởng như báo điềm gở, làm cho bầu trời lạnh băng, không gian chợt tối lại.
   Gĩa từ tiếng quạ của đất tù ngày ấy, tôi đi… qua biển rộng, qua những chiếc cầu hoàng hôn, những bến cảng sương mù, những xa lộ thời gian… Để đến trên ngọn đồi Penasquitos
buổi trưa nhìn nắng xế
trên sân. bóng quạ què
kêu. kêu. từng giọt máu…
   Như vậy đó, ôi cuộc hành trình nhân sinh và đời đã qua biết mấy nhịp cầu. Để gặp lại tiếng quạ trong vườn khuya trụi lá đêm qua.
   Phải chăng đã hoàn thành một Tứ Đại Oán để gởi người thời nay?
NXT

CA OÁN. ĐẾN VỚI MÙA GIẢI OAN

Nguyễn Thanh Châu

Biển lô xô. sóng xé bạt ngàn…

mùa lập đàn tràng giải oan khuất
mười năm. vất vưởng những ai đâu
lũ lượt về nghe hồn lũ lượt
trống lôi âm rờn rợn tang sầu
trống lôi âm lành lạnh giang đầu
trôi. lóp ngóp những bè gỗ tạp
trôi. lêu bêu những xác không hồn
vang thiên thu đầu bãi cuối nguồn
đêm âm u khắp trời đại nạn
ta nhớ ai tàn rạc cõi tù
ta nhớ em cửa nhà ly tán
lòng đau nước mắt cạn. máu khô
mùa mưa về tả tơi mái rạ
bìm bịp kêu nước lớn tràn sông
minh mông. cơn gió dữ. minh mông
thổi điêu linh hằng hà kiếp số
thổi tung bung thần trí vật vờ
thổi ta đi suốt niềm thống khổ
biển lô xô. sóng xé bạt ngàn
biển đen đui không đóm sao tàn
thắp nén nhang lập loè cháy đỏ
bóng ai kia chấp chới nghìn trùng
tiếng em thơ kêu rú hãi hùng
tàu đâu. người đâu. mỏi ánh mắt
lạc rồi những tín hiệu. xa xăm
lạnh nhiều mỗi hơi thở cõi âm
đêm vẫn đêm hú tim. quay quắt
hồn hỡi hồn. lây lất cùng ta
khóc đi những cảnh đời chia cắt
mười năm. chờ mãi hội long hoa
về đây. hẹn đến giờ phán xét
tội ai vấy bẩn cả lòng người
tội ai đã rắc gieo mầm chết
tuổi xuân em vùi dập một thời
về đây. những vong linh trôi dạt
kể nhau nghe lời sấm giảng xưa
giải cho nhau hết niềm cay nghiệt
lòng ơi. hãy nở. nở nghìn hoa
lòng ơi. hãy sáng vừng nhật nguyệt
soi đường đi tới phá lao lung
oan khiên. thôi sẽ vùi đáy huyệt
người về chăm chút cuộc vui chung…
1986
NTC

*nguồn: Facebook Châu Nguyễn


Friday, August 21, 2020

ĐÔI DÒNG TẢN MẠN VỀ ‘TRÒ CHUYỆN VỚI THIÊN THẦN’ CỦA TRƯƠNG VĂN DÂN

Nguyên Cẩn

Tiểu thuyết- Tác giả Trương Văn Dân
Nhà Xuất Bản Tổng Hợp- tp HCM. 6-2020

Nikos Kazantzakis có lần nói rằng “Nếu trọn tâm hồn tôi là tiếng thét thì tác phẩm của tôi là lời chú giải cho tiếng thét ấy.” Với Trương Văn Dân (TVD), ta như bắt gặp lại điều ấy.

Gần 400 trang sách viết về cuộc trò chuyện với một đứa bé sắp chào đời và TVD đã nói với nó về mọi vấn đề, như là một Bách khoa thư, với 75 đề mục, khởi đi từ tình yêu và thiên chức của cha và mẹ, sợi dây liên kết thiêng liêng với con cái, hôn nhân và tình yêu cho đến những vấn nạn xã hội như ly dị, chủ nghĩa mackeno, cho đến những chủ đề bát ngát bao la như thân phận người Việt Nam hôm nay, trong một thế giới phẳng , tình trạng toàn cầu hóa, những vấn đề gai góc như ô nhiễm môi trường, phân biệt giàu nghèo, giới tính, chủng tộc, chiến tranh… Những câu hỏi vĩ mô: Thế giới sẽ về đâu? Nhân loại sẽ ra sao? Chúng ta sẽ bắt gặp trong tập sách này với những lời chú giải .
Tác giả nói với “thiên thần” về mục đích của sự chào đời rằng “ …vấn đề là chúng ta sinh ra để làm gì? Có phải chúng ta sinh ra để yêu nhau? Hay không được sinh ra để hiểu nhau?.. Tìm được câu trả lời về đời thật không dễ dàng… Bất trắc tai ương chiến tranh, dịch bệnh, cô đơn luôn làm con người hãi sợ. Thế nên trong đời sống ai cũng cần được ở bên một người có thể giúp mình chịu đựng…. Ba mong là trong cuộc đời con sẽ gặp được một người biết biến những thứ vô vị trở nên ý nghĩa… Ba may mắn vì gặp mẹ và những người bạn quý…” Nhưng sau đó, TVD đi xa hơn với những chủ đề rộng lớn hơn. Anh để cho kiến thức của mình tuôn chảy trên những con chữ ngồn ngộn, tràn đầy số liệu và ví dụ, minh chứng cho một thế giới bất trắc mà thiên thần sắp bước vào. Ở đó có những vấn đề xã hội như thân phận phụ nữ lấy chồng xa xứ, thân phận người nghèo, tình trạng ly dị và phá thai… rồi đến thân phận người Việt Nam, rồi đến những vấn đề lớn lao như sự tha hóa quyền lực, cho đến chủ nghĩa toàn cầu hóa đang bế tắc vì bản chất thật sự của toàn cầu hóa bị xem là tàn ác một cách thông minh và thông minh một cách tàn ác vượt mọi thời đại, sự chệnh lệch quyền lợi giữa những thành phần kinh tế đến nỗi một học giả phương Tây đã cảnh báo “Tất cả chúng ta đều là những kẻ bóc lột, phồn vinh của chúng ta chính là nỗi khổ của kẻ khác.” TVD khi nói về chính trị đặc biệt cảnh báo “Chủ nghĩa dân túy ( populism ) nhân danh người dân nhưng lại phớt lờ nhân quyền, không nhận di dân, ngoại giao dựa trên sức mạnh quân sự, … phát triển kinh tế bất chấp nợ công, dẫn đến “Thời đại bất định toàn cầu”. Tác giả lên án tình trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên, phá hủy môi trường, giết hại sinh vật biến hành tinh này thành nơi không thể sống …
Về chiến tranh trên thế giới, anh viết “ Bên dưới lớp áo hoa hòe, chính nghĩa, bản chất chiến tranh vẫn luôn là một sự áp đặt, giành giật và cướp bóc trá hình.”
Đọc “ TCVTT”, câu hỏi “Thế giới rồi sẽ về đâu?” hay “Nhân loại sẽ ra sao?” được tác giả đưa ra nghiêm túc. Có lúc chúng ta thấy bi quan vì TVD nói đến những cuộc khủng hoảng văn hóa, khủng hoảng sinh thái, khủng hoảng xã hội và tài chính, kinh tế đang trộn lẫn vào nhau và tóm lại chúng ta đứng trước cuộc khủng hoảng văn minh, nhân chủng học… Anh kết luận “Nó tự hủy diệt trong hoang tưởng vì nó đặt nền tảng trên hoang tưởng.”
        Thế nhưng khi được hỏi về mục đích khi viết tác phẩm này, nhà văn nói: “Tôi viết vì tôi yêu quý cuộc đời và trong lòng có những điều không thể không nói, dù ý nghĩ có khi mâu thuẫn và những con người khác nhau trong tôi luôn tranh cãi với nhau. Tôi xem những dòng tự sự này như một cách trò chuyện, tâm sự cùng độc giả và cuộc đời.”. Cuộc đời mà như anh trích dẫn, thi sĩ Tản Đả định nghĩa “Đời là cõi bắt người ta phải sống” và “Cuộc đời không bao giờ có một hình thù cố định. Nó như giọt nước. Khi tròn lúc vuông. Khi dài như sợi khi ngắn và mỏng như tờ giấy… hình thù nó tùy vào vật chứa. Mỗi hình dạng là một trạng thái tâm hồn.” Thế nên tác giả cũng trải qua nhiều tâm trạng: khổ đau - hạnh phúc - giận dữ - buồn phiền - mừng vui và bị tác động do những ngoại lực xung quanh: các yếu tố môi trường, xã hội, văn hóa, gia đình và bạn bè ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm hồn. Anh vẫn yêu đất nước nồng nàn:

           Tôi yêu đất nước này rau cháo
Bốn ngàn năm cuốc bẫm cày sâu ( Trần Vàng Sao )
và khi anh nhắc thơ Lưu Trọng Lư, anh nhắc cả những người trên ngôi cao chín bệ
            Mỗi ngày anh phải trả lời câu hỏi
            Những việc làm nào là có ích cho dân ?
          Chúng ta thấy tác phẩm không chỉ đem lại những suy nghĩ tiêu cực vì TVD cũng viết: “… theo ba chỉ có tôn giáo mới có thể giúp mình vượt thoát khỏi những khổ đau và sống bình an…” Anh nhấn mạnh “Việc thờ phượng đức Phật là do người đời sau bày vẽ , thậm chì mọi người còn mải mê thờ ( tượng) Phật mà quên mất việc chính là thực hành con đường hạnh phúc ngài đã chỉ dạy .”
          Như vậy TCVTT vẫn có những âm ba vọng lại từ tiếng thét của TVD ,đồng cảm, chia sẻ, xa hay gần tùy vào người đọc vì ở đó vẫn có những điểm sáng như lòng yêu thương cuộc đời, như con đường của hạnh phúc nếu người ta biết sống mà yêu nhau dù trên mảnh đất còn nhiều thiếu thốn vì như anh viết:“Cõi thiên đường không liên quan gì đến sự bất tử mà là một thế giới
trong đó con người biết tôn trọng và sống tử tế với nhau.”
      Trong tâm thế khai phóng ấy , hãy đọc và ngồi xuống cùng “ Trò chuyện với thiên thần”

Sài Gòn 7.7.2020  
NGUYÊN CẨN

*Nguồn : https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=2345364265770232&id=100008900445952

NHƯ MẸ. NHƯ EM. VÀ NHƯ BẠN

Lê Ký Thương

Quay về. Tranh Lê Ký Thương

            I believe that you are the only root
            that keeps me still standing
                                    Nikos Kazantzakis

Tôi về giữa cơn mưa
gió xé làn áo mỏng
con chim cu gù trên ngọn sầu đông
chào tôi rỉa cánh
Mẹ rang nhã bắp vừa xong
bếp lửa còn thơm mùi bã mía

Bàn tay mẹ xương khô
mà vẫn đẹp như bàn tay người bạn gái
bàn tay – đôi cánh bao dung
ấp ủ tôi – chú gà nhỏ dại
chú gà con sợ những cơn mưa
những cơn mưa nhọn hoắc móng diều hâu
những cơn mưa tàn nhẫn phủ quanh đời
trùng trùng đường dây nghiệt ngã

Tôi ngồi bên Mẹ đêm nay
tóc Mẹ điểm hoa cau
nụ cười hân hoan mùa vạn thọ
bàn tay Mẹ nắm tay con
lời nói thoảng qua tàu lá chuối
vườn khuya sương bọc đốm sao
lòng tôi mảnh như giọt sương
ngủ yên trên sóng lá
quên hết thời phiêu bạt

Quên hết – quên hết
những ngày xuống đường tranh đấu
sau khi tuyệt thực về nhà
tay run run cầm ly sữa Mẹ pha
nhìn Mẹ nghẹn ngào…
con không còn hơi uống

Phải chăng tôi đã phản bội bạn bè
bởi vì tôi lãng mạn?

Quên hết – quên hết
tách nước trà miếng bánh đậu xanh
ở tòa soạn trên gác lửng nhà in
hay nửa đêm cùng cô bạn phóng viên
đi làm phóng sự
giữa đường trốn mưa dưới giàn thiên lý
nàng đã hát cho tôi nghe
tiếng hát vang vang mấy cành ly biệt

Quên hết – quên hết
phòng triễn lãm chỉ có hai người
những bức tranh màu lạnh
hay ly rượu mừng chưa kịp uống vội say
môi tê tái

Bây giờ tôi còn có mỗi niềm tin
nơi người bạn gái
dù chưa biết khi nào tôi vẽ được lòng nàng
nhưng nàng đã vẽ lên lòng tôi một tuyệt tác
bao năm qua trên bước đường lưu lạc
trên lòng tôi màu hoa khế chưa phai
đôi mắt mở tròn đôi mắt thỏ sớm mai
đã soi sáng đường tôi tiến tới
ôi! cái nhếch môi cười sao mà dịu vợi
suốt ngàn năm còn mãi vẻ thanh tân
nốt ruồi đen bên sóng mũi quá gần
đã điểm xuyết cho tình thêm cao  quí
nét bút cao xa nhưng quả là ủy mị
tất cả đều kết tụ một NÀNG THƠ
dạy tôi YÊU – dạy tôi SỐNG – dạy tôi CHỜ
như MẸ - như EM – và như BẠN

Bây giờ tôi còn có mỗi niềm tin
nơi người bạn gái
nàng là cội rễ duy nhất
giữ tôi đứng mãi.

LKT
1970 – 1974
(trong Bếp Lửa Còn Thơm Mùi Bã Mía)

THƠ THIỀN

Nguyễn Tôn Nhan

 Tranh thiền Lê Ký Thương

*viết tặng Đặng Tấn Tới

thơ thiền vui một dạo
thênh thang vai áo nhầu
chúng ta cùng nói láo
nghe láo sướng ngàn thâu
có gì trong mộng ảo
mà biện biệt sắc màu

trăm năm cuộc đi dạo
rồi xuống bến trước sau…
NTN
1992

*nguồn Facebook Thư Hương


Thursday, August 20, 2020

VIẾT GIỮA MÙA ÔN DỊCH - BÀI 5. ÁO XƯA

Khuất Đẩu

Tranh Mai Trung Thứ

Áo xưa dù nhàu
Cũng xin bạc đầu
Gọi mãi tên nhau
       Trịnh Công Sơn

     Áo xưa là áo cũ, chứ không phải áo của vua quan triều Nguyễn ngày xưa, bày ra khoe cho Tây mũi lỏ lé mắt coi chơi. Cũng không phải chiếc áo của anh dân quê hôm qua tát nước đầu đình/ bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen/ em được thì cho anh xin/ hay là em để làm tin trong nhà. Lại càng không phải chiếc áo yêu nhau cởi áo cho nhau/ về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay!
      Đó chỉ là những chiếc áo đơn sơ bình thường của những người thân trong gia đình và của chinh tôi đã mặc trong những ngày tháng cũ.
      Cha tôi mất sớm, nên tôi không nhớ ông mặc gì: áo trắng, áo nâu, áo vạt hò hay áo sơ mi, chỉ nhớ có mỗi chiếc áo dài lương đen ông mặc một lần khi cúng khai tâm cho tôi.
      Cúng khai tâm là cái lễ của những người ngày xưa học chữ nho. Đến thời chữ quốc ngữ, vì ông và cha tôi đều biết chút ít chữ nho nên vẫn giữ lễ để mở cái tâm đang đóng kín của tôi ra, như cách những người làm tượng khai quang điểm nhãn hay vẽ mắt sau khi đóng xong thuyền. Cũng nghiêm trang trịnh trọng lắm. Nghe đâu cha mẹ tôi trước đó không được “gần” nhau, còn tôi được cúp tóc ca rê, tắm rửa sạch sẽ, thay áo mới, đứng trước bàn thờ bày giữa sân lạy ba lạy, chẳng biết lạy thần gì chỉ thấy trước mặt một con gà luộc tươm mỡ đang nằm bẹp trên một cái đĩa to tướng, cùng với mấy tô cháo và đĩa xôi giữa làn khói nhang trầm đang uốn éo bay lờ đờ.
      Rồi tôi được ăn nguyên một cái đầu gà nhổ còn sót lông, nuốt luôn cả 2 con mắt đang trợn trừng đến phát sợ, để học cho được sáng trí và mau tấn bộ. Còn cha tôi, áo dài cũng đã cởi, đang ngồi uống rượu cùng ông tôi và bạn của ông.có chòm râu dài tới ngực. Dường như họ đang cầm cái chân gà không phải để nhậu mà để coi xem thần phán thế nào trên mấy cái ngón cong nhiều hay cong ít đó, mà đoán định được tương lai học vấn của tôi. Có lẽ đó là cái chân của con gà ăn quẩn cối xay hay bị què, nên chuyện học của tôi chẳng đi đến đầu đến đũa, cứ lẹt đẹt gần chót bảng!
       Mấy tháng sau, cha tôi bệnh thương hàn mà ngày đó chưa có thuốc chữa, ông tôi chỉ biết xì xụp lạy cầu xin tổ tiên cứu giúp, còn bà tôi thì niệm quán thế âm bồ tát xin phù hộ, nên ông không qua khỏi! Chiếc áo để lại cho ông tôi mặc trong những dịp tết, cúng giỗ hay cúng đình. Áo lương đen rất mỏng và thưa, nếu chỉ mặc một mình nó thôi thì người khác thấy cà da lẫn thịt (kiểu như quý bà quý cô sành điệu bây giờ mặc áo xuyên thấu! may mà không có mốt quần xuyên thấu!) Chiếc áo mỏng quá, sợ rách không giặt nên bị dán nhấm càng lúc càng nhiều, đến một lúc nào đó không thể mặc được nữa, bà tôi đem cất kỹ trong rương, coi như kỷ vật của đứa con trai duy nhất.
      Chiếc áo quen thuộc thường ngày của ông tôi lại là một chiếc áo bành tô của hải quân Pháp, được ông anh họ có một bà vợ đầm lai, khi tản cư về làng, cho. Áo dệt bằng len thô trộn với tóc, dày gấp chục lần áo lương, mùa hè mặc rất xót, nhưng mùa đông lại rất ấm. Áo có cả chục hạt nút bằng đồng đen xỉn, mỗi hạt đều có hình mỏ neo.
      Ông mặc chiếc áo đó từ năm 1945 đến 1965 vẫn chưa rách. Nó chỉ bị đốt cháy cùng với ngôi nhà. Sau đó, khi làng bị đốt trụi biến thành vành đai trắng, ông lén trở về và bị trực thăng bắn chết bên hàng dậu. Phải chi còn chiếc áo ấy đắp lên mình, chắc ông đỡ lạnh khi phải nằm dưới mộ sâu!
      Chiếc áo mà tôi lúc nào nhớ tới cũng muốn khóc, là chiếc áo của mẹ tôi. Đó là chiếc áo dài mẹ mặc khi gặp thầy hiệu trưởng, lúc mẹ từ Quy Nhơn vào Ninh Hòa, thăm con. Một chiếc áo thâm đen đơn sơ, hai tà có may hai đường xếp nếp vì đang còn chịu tang ông.
      Lúc ấy mẹ trẻ lắm vì hơn con chỉ 18 tuổi, cả trường cứ tưởng là chị cả của con. Chiếc áo đơn sơ quá, dù lúc ấy mẹ đủ tiền để mua một chiếc áo đẹp hơn.
      Mẹ là người đàn bà khổ cực nhất trên đời mà con được biết. Cha con chết lúc em mới 3 tháng tuổi, con nghe mẹ gào chứ không khóc, rồi mẹ thảy em cho con bồng, tập buôn tập bán, chạy chợ trên xuống chợ dưới, kiếm từng hạt cơm manh áo để nuôi chúng con.
      Có lần mẹ đi chợ về, trông thấy con bế em vụng về như mèo tha dưa cải, mẹ đã quăng cả gánh hàng, nhào tới bế em, mẹ thì khóc còn em và con đều cười toe vì em có sữa và con có quà!
      Một lần khác, chưa kịp vào nhà mẹ đã hối “múc cho mẹ gáo nước, đi con”. Cầm gáo nước, mẹ uống như người sắp chết khát, nước vừa chảy vào miệng mẹ vừa chảy trên ngực áo cũng đang ướt vì căng sữa, trong khi lưng mẹ cũng ướt đẫm mồ hôi vì phải chạy trên đường xa dưới cái nắng đổ lửa.
      Chiếc áo bạc màu ấy, không chỉ một mà rất nhiều vì cả đời mẹ tôi luôn mặc như thế, và lúc này đây tôi đang khóc vì đang viết về những chiếc áo xưa cũ của mẹ.
      Một chiếc áo khác, cũng rất đơn sơ, là áo của bà tôi. Áo nhuộm màu nâu, tay áo dính vôi và nhựa cau, vì bà thường lau miệng khi ăn trầu. Chiếc áo ấy làm tôi vui mà cũng nhiều khi làm tôi sợ, mỗi khi bà leo cau bẻ buồng và bắt chim sáo cho tôi. Trên cao tít, cái dáng mong manh của bà in lên nền trời xanh, là hình ảnh xúc động nhất thường hiện ra trong những giấc mơ của tôi.
      Từ khi con trai chết, bà gần như chìm khuất dưới sắc màu toàn là nâu: áo nâu quần nâu, khăn bịt đầu cũng nâu, một màu nâu mộc mạc thật buồn.
      Tôi cũng hãy còn giữ một chiếc áo sơ mi, nút xương bò nhưng dệt bằng tơ tằm, gọi là đũi, rất chắc. Đó là chiếc áo được may bằng máy chứ không may bằng tay như áo mặc thường ngày. Bà đã đem bao nhiêu kén do bà nuôi đổi cho người ươm tơ để lấy đũi về may áo cho tôi, khi tôi thi đậu vào lớp 5 tức là lớp 6 cấp hai bây giờ. Kiệt Tấn được mẹ may cho chiếc quần có hai túi trông cũng le lói lắm, tôi thì áo đũi nhuộm nâu, cũng rất sang chảnh đâu có thua gì.
      Đây đúng là áo xưa vì đũi lúc nào cũng nhàu nhò, hãy còn được vợ tôi cất kỹ để khoe với mấy đứa cháu nội.
     Vợ tôi cũng có một chiếc áo mà tôi rất thích, áo lụa màu tím than, mặc trong dịp vợ chồng cùng được mời đi họ trong lễ cưới cháu trai một người bạn. Ngày ấy, ba vòng chưa bằng nhau, nàng 50  xúng xính bên một ông chồng già 60, trông cũng nhỏ nhắn dễ thương, nhiều người cứ tưởng lầm là gái Huế.
Không phải áo của Bác, cũng không phải áo của hoàng hậu Nam Phương, nên chẳng chiếc áo nào được cho vào viện bảo tàng. Chỉ có trái tim tôi coi như một bảo tàng tư nhân sống, được cho vào một cách nâng niu đầy thương nhớ thương mà thôi.

KHUẤT ĐẨU


Tuesday, August 18, 2020

BẾN SÔNG BÃI NỌ

Huỳnh Liễu Ngạn

Tranh Đinh Cường

          gió đưa cây cải về trời
          rau răm ở lại chịu lời đắng cay
                                               Ca dao
với tay em đã xa rồi
mây giăng lối có luân hồi với anh
đường đi em cứ hỏi rằng
bến sông bãi nọ còn ngăn nẻo về
lâu rồi anh thật nhớ quê
làng trên xóm dưới bờ đê ruộng đồng
con sâu con dế côn trùng
tỉ tê hôm sớm buồn không dặm trường
ngọn rau ngọn cỏ con đường
em đi gió thoảng vô thường theo sau
đời trôi lỡ mấy nhịp cầu
sao không trôi cả nỗi sầu qua sông
đêm hôm nước lụt lên đồng
xóa đi hết cả bụi hồng ngày xưa
thà như mây thà như mưa
thà như cây cải gió đưa về trời .

HUỲNH LIỄU NGẠN