Sunday, March 10, 2019

ĐỌC VÀ NGHE THI NHẠC KHÊ KINH KHA


Võ Công Liêm
Tác giả Khê Kinh Kha

Thoạt kỳ thủy tôi chi biết Khê Kinh Kha là một thi sĩ tôi yêu; từ khi đọc thơ anh đăng rải rác trên các tạp chí văn học hải ngoại.Tôi nuôi trong tôi những câu thơ bóng bảy đầy đủ hai khía cạnh quê hương và tình người. Cũng từ đó tôi khám phá thêm một tài năng khác của anh; đó là âm nhạc, làm tôi sững sờ, bởi giòng nhạc của Khê Kinh Kha, một lần nữa; đã lôi cuốn người nghe hấp dẫn, đam mê và gợi nhớ. Ban đầu đọc thơ anh làm, nghe nhạc anh soạn cứ ngỡ như một tài nhân trẻ tuổi nhưng khi biết đến anh thì chúng tôi ở cái tuổi “cổ lai hy” vì thế mà thi nhạc Khê Kinh Kha, có lẽ;”lục thập ngôn bất nghịch nhĩ” nên đến với người đọc (dể ngâm) người nghe (dể hát) qủa không ngoa!
Và; dần dà chúng tôi quen nhau, trao đổi văn thơ họa nhạc đi tới cảm thông hài hòa, mặc dù chúng tôi chưa một lần gặp nhau rồi trở nên thân quen như đã thân quen âu cũng là duyên tình văn nghệ.
Thơ KKK đã làm tôi xúc động, nhạc của anh làm tôi bồi hồi, thôi thúc đưa tôi về với ba”thì” hiện tại, qúa khứ, vị lai, một âm hưởng nhạc lạ kỳ,  trộn lẫn một âm giai tuyệt vời giữa không gian và thời gian. Mà trong mỗi thì chứa đựng một quê hương và tình người. Tôi vốn yêu nhạc họ Trịnh, Ngô Thụy Miên, nhạc KKK phảng phất tiết điệu đó, không phải anh chịu ảnh hưởng của họ nhưng nguồn cảm hứng dâng trào đụng phải nhau là chuyện thường tình; thế thôi.            
Âm hưởng nhạc KKK giàu tính lãng mạn, lời ca trữ tình (lyric) nhạc điệu dịu dàng như sóng êm.Tuyệt vời của KKK trong thơ cũng như nhạc, anh không bị chữ nghĩa câu thúc, không “nặn”chữ như những người khác mà nó đến với anh tự nhiên như sẳn có. Đó là nguồn phát xuất từ tiềm thức mà ẩn chứa nhiều vị đắng của tình yêu, vị tha cay cay của quê hương yêu dấu; cả hai thứ đó là nguồn mạch của anh.Anh sống ra sao nhạc thơ anh sống như vậy; điều mà tôi cảm nhận về anh là trong thơ có nhạc trong nhạc có thơ.Thi hào đời Đường Vương Duy cũng thế trong thơ có họa trong họa có thơ ;có phải là “tài tử đa xuân tứ” ? Vô hình dung cả hai thứ đó trở nên thời thượng một thời .

Đi sâu vào thơ anh viết, đôi khi gặp những giọng điệu của Xuân Diệu, Nguyễn Bính mặc dầu thơ anh làm phần lớn theo thể tự do không vần hay thể loại tân hình thức nhưng vẫn giữ được vần điệu, đối ngẫu với nhau đầy đủ ý thơ mang tính chất tình và người. Sau mấy thập niên ly hương không tránh sự khắc khoải anh xót thương hai cảnh giới chia xa, hình ảnh đó đóng cứng trong tâm hồn anh. Anh có một đặc tính đáng kể của một con người nghệ sĩ; bình đẳng với đời cũng như bình đẳng với gia dình, anh quan niệm không có thăng và trầm,anh cho rằng tất cả là ngẫu nhiên tự có, bởi vì thăng trầm thuộc về thế giới nhị nguyên, tâm bình đẳng là lòng nghèo khó, xót thương mà anh muốn dự phần vào cõi vô dư ấy.
                                “đã ba mươi năm anh vạn lần thất hứa
                                  đã say mê theo tiếng gọi tim mình
                                  …
                                  ôi hạnh phúc gia đình mình em nhỉ”
                                  (Hạnh phúc)
Cái tình anh thắm thiết không lường,cái hào phóng tình người chan chứa mà lắm lúc trở nên bi quan với hiện tại:
                                  “phải chi có bạn cùng chia rượu đắng
                                   chắc cũng đỡ buồn giữa chốn xa xôi
                                   …
                                   xuân đến xuân đi đời còn mấy bước
                                   ai khóc ai cười nhìn cánh mai rơi”
                                   (Mấy trăm lần mùa xuân)

Thơ Khê Kinh Kha dạt dào tình yêu lồng trong bối cảnh quê hương và tình người, anh đã sống những mạch thở của đất nước, đầy ấp mộng ủ, mặc dầu; trước đây quê hương là máu lửa là nước mắt nhưng hôm nay anh vẽ lại một quê hương mà anh đã sống và lớn lên, trong ký ức thơ mộng, vi diệu, tồn căn vừa ảo giác vừa hiện thực, lấp lánh một bầu trời tình ái đầy kỷ niệm trong thi nhạc của anh. Bài thơ Tỏ Tình cũng là tựa đề  Tuyển Tập Thơ Nhạc Khê Kinh Kha, xuất bản năn 2006
Một Tỏ Tình cho quê hương đã mất. Những bài thơ trong tập Tỏ Tình và Quàng Vai Thơ Đi Giữa Đời(2007) đầy xúc cảm trong tôi.
                             xin làm mây bay về qua chốn cũ-thăm những
                             con đường bong mát tuổi mộng mơ-
                             giữa núi  cao nhỏ từng giọt mưa tình - cho đất
                             khô hân hoan tìm lại bờ lau ngọn cỏ-
                             rừng cây xưa thêm lá mộng đam mê - và tình ai     miên man
            như sóng vỗ.
                               xin một lần cất tiếng khóc vào đời trong tiếng
                               mẹ ru-xin được làm tuổi thơ ngồi hát bên
                               dòng sông lững lờ - xin là gió thổi tung tóc em              
                               chiều tan học - tình mong manh ấm lại giữa
                                   lòng mơ.

                                   nếu một mai mưa về trên thác cũ
                                   dưới hiên xưa xin nằm chết hân hoan
                                   hơi thở cuối xin dành tạ ơn mẹ
                                   trái tim nồng nở nụ hồng trao em
                                   và thân xác làm phân bón núi sông.
                                   (Tỏ Tình)

Trong bài Thân Phận Ca anh kể hết những dấu yêu quê hương nơi anh đã sống và lớn lên, lời thơ thống thiết của một Kinh Kha chẳng trở về, anh viết một dọc như mạch thở như trăn trối, đọc thơ anh mới nhận ra cái chân như trong thơ Khê Kinh Kha.
Với 66 bài thơ trong tập Tỏ Tình,KKK dàn xếp hết sức mạch lạc,giòng thơ trôi mênh mông, chảy êm vào biển mẹ. Thơ Khê không cần vần đìệu, ước lệ của lục bát, thất ngôn, ngủ ngôn, bát ngôn anh xử dụng rất ít ở những thể loại này tuy nhiên; anh vẫn giữ được vần điệu nhịp nhàng, liên kết, đối nhau rất ý tứ đó là nét đặc thù trong thi tứ của anh. Tôi yêu thơ Khê Kinh Kha ở cái chỗ phóng khoáng đó.

Thơ Khê Kinh Kha diễn tả cái thực hơn cái ảo, anh diễn đạt một cách chung thủy tình non nước tình gia phong, không mị, không đụng chạm  tới cõi phi của thơ mà vẫn chứa cả hồn thơ.
Khê Kinh Kha là cả một nghìn trùng muôn dặm, xa quê hơn bốn thập niên mà lòng vẫn hoài bão chất chứa mộng nam ai cho dù mộng Kinh Kha chăng nữa. Người tráng sĩ của huyền thoại thời chiến quốc Xuân Thu. Có thấm nhuần cái siêu tưởng đó mới có cái bút hiệu đầy ấn tượng như thế. Một Kinh Kha ,một đi không trở lại; bởi vì thế mà lòng quặng đau, vượt qua bên kia bờ, ngoãnh cổ nhìn “tư cố hương” xa lắc xa lơ, lòng mang mát buồn của kẻ mất nước (không phải sau 75 mà ngay 54 đã phải chia xa Hà Tỉnh) có phải đó là điều để anh gọi là Khê Kinh Kha, chữ Khê  mà anh sẽ mãi mãi không bao giờ quên là Hà Khê nơi nguồn cội anh sinh ra đời; cho nên có xao xuyến có ray rức, anh có Tỏ Tình hay Quàng Vai Thơ Đi Giữa Đời chăng nữa, giờ đây chỉ là phương trời viễn mộng mà thôi. Thi sĩ Khê Kinh Kha biết điều đó đã từ lâu…
Cho nên không lấy gì làm lạ thi nhạc của Khê man mác tình nước tình nhà mà anh đang sống giữa nơi chốn của quê hương và lưu đày.

Trong một dịp trao đổi về âm nhạc; Khê Kinh Kha cho tôi biết :- anh viết nhạc đã lâu, hồi còn là học sinh, sinh viên Sài Gòn có nghĩa rằng anh viết nhạc cho anh “thưởng thức”, không phổ biến và cũng chẳng bài bản, lý do anh quá “mê” Trịnh công Sơn và đa tình với giọng ca Khánh Ly lòng đam mê đó ấp ủ trong  anh, mãi đến những năm du học ở Hoa Kỳ(1967). Sau giờ tan trường, cô liêu, không bè bạn thân quen, không bà con chòm xóm để qua lại đôi điều, anh đem nỗi buồn cô độc đó vỗ lên cây đàn guitar “pawnshop” lần mò đơn chiếc từng nốt nhạc đến khi thạo ngón gảy anh nghĩ tới sáng tác. Khê Kinh Kha không qua trường lớp âm nhạc, anh học từ bạn bè, sách vở; vốn có năng khiếu thiên bẩm, anh bung mình ra viết nhạc. Kể từ đó anh nhấc cánh bay xa vào con đường nghệ thuật âm nhạc đơn phương.
Năm 1975 khi nghe tin mất nước anh ngậm đắng nỗi uất nghẹn đó một thời gian dài, năm 1980 nguôi ngoai phần nào,song le; Kha không thể  xóa mờ hình ảnh quê hương ,bung xung với nội tại, xô anh vào con đường tình âm nhạc, anh sáng tác liên tục, mãi năm 2004 sau chuyến về thăm quê ViệtNam khởi từ đó anh viết nhạc tình yêu và tình quê hương nhiều hơn. Song hành với nhạc anh còn sáng tác thơ cũng đượm một sắc màu. Thơ nhạc cùng một tạng thể. Bài thơ Anh Sẽ Về được Nguyễn Hữư Nghiã phổ nhạc; bài nhạc đắc ý của cả hai tác giả. Khê Kinh Kha cảm hóa cả hai luồng tư tưởng đó, từ vai trò “nghiệp dư” mà không ngờ nó trở nên  “chuyên nghiệp” có thừa. Tâm hồn anh sung mãn khởi từ đó.
Thời điểm 1965 đến 1968 phong trào âm nhạc ViệtNam mang tính chất “phản chiến”(anti-war) nhưng với Khê Kinh Kha không phải là kẻ đứng ngoài cuộc chiến, anh vốn nặng lòng với tổ quốc, anh dùng âm nhạc ca lên nỗi thống khổ quê hương, muôn đời là máu lửa, là nước mắt anh gián tiếp kêu gào hai chữ phản chiến không nên lời, như bài “Tôi Vẫn Mơ Về” rồi bài “ViệtNam Khúc” đó là những nhạc khúc như nhắn gởi sự đau thương của mình đối với quê nhà; lời nhạc bi thiết:

                      “dù cho hôm nay sống trong nỗi nhớ
                    nhưng trong tôi vẫn rộn ràng một giống rồng tiên”.
                          (Vẫn Kêu Hùng Làm Người ViệtNam)
            
             “mơ trở về nơi dấu yêu của mùa trăng sáng với câu hò
        tôi vẫn mơ về về quê cũ dưới hiên nhà ru trong tình non sông”
                         (Tôi Vẫn Mơ Về)

Với tình người, Khê Kinh Kha qúa nhức nhối, anh nhạy cảm, bộc bạch với người em, người em ở đây là những người em gái quê hương chứ không phải người tình của lứa đôi.Tình anh chất đầy trong “Sầu Khúc” âm điệu buồn:
                          “ khi bước chân ta về
                            lạnh lùng sương rơi
                            trên tóc rối
                            đêm xót xa môi cườI
                            một lời vu vơ trong sương khói “

Với tình mẹ anh nhắc nhở nhiều lần trong thơ lẫn trong nhạc, mẹ là tâm tưởng không bao giờ nhạt phai giữa nhạc và thơ; vì vậy cái hình ảnh Mẹ, Em và Quê hương là ba đơn vị cốt tủy, ba dòng lệ chảy không bao giờ nguôi trong nhạc của Khê. Năm anh về thăm quê, đạp chân lên đất mẹ, dòng chảy của anh không ngừng rơi, tim anh co lại,một quê hương ngấn lệ. CD Ngủ Đi Em là những bản tình ca cho quê hương và bài Tình Còn Mưa Bay là khúc biệt ly của anh.
Những bài ca xuất phát từ năm 2004 cho đến nay vẫn một mực ngợi ca tình yêu, yêu tất cả những gì quê hương có và những gì có yêu thương. Ca khúc Tình Sầu Hoàng Ngọc không phải nói lên tình yêu lứa đôi mà nói lên cái tình SàiGòn như một thời huy hoàng, cái trân qúi của Hòn Ngọc Viễn Đông vậy.
Những ca khúc anh sáng tác trước đây; hơn hai thập niên lần lượt phát hành và trình diễn qua những giọng ca tên tuổi Thanh thúy,Sĩ Phú,Mai Hương như Di Chúc Cho Con (Thanh Thúy) Nỗi Niềm(Sĩ Phú) Làm Sao Quên Được (Duy Quang) thính giả; từ đó biết đến Khê Kinh Kha.Gần đây những tình ca KKK đã xâm lấn thị trường khán thính giả trong nước cũng như hải ngoại nhờ những giọng ca trẻ truyền cảm, ăn nhịp với nhạc của Khê; đáng kể với những giọng ca mượt mà của Quỳnh Lan, Diệu Hiền, trầm ấm của Xuân Phú, Hoàng Quân đã đem lại thành công cho tác giả lẫn người ca.
Khê soạn nhạc, viết thơ trong một tâm hồn khoáng đạt, không ảnh hưởng bởi phong trào hay hệ lụy giáo phái, ngay từ thuở đối đầu với cuộc chiến hay ra hải ngoại rọc ròng không thấy một dấu tích ngoại giới xen vào trong nhạc thơ của anh. Nhìn vóc dáng của Khê Kinh Kha không ai thấy cái vỏ  “làm dáng văn nghệ” của anh, anh không cần phải có cặp kinh đồi mồi rộng khung như TCS, là đà như một số nhạc sĩ tài hoa khác, trông sao sao. Anh sống đơn giản, anh nhìn đời với đôi mắt vô tư, cái “đõm dáng”không làm nên nổi bài ca. Thực như thế !
Khê rất thô sơ mà hồn anh rất dồi dào. Cái hay của một người nghệ sĩ,nói chung; toát ra ở cái chỗ đó.
                                           “mẹ ngồi ru trong đêm
                                             mưa hắt hiu qua lòng
                                             lời mẹ ru qua đêm
                                             sông núi hiu hiu buồn …”
                                             (Một Đời Me Ru Con)
lời nhạc nhẹ nhàng,thanh cao cọng với tiếng ca ngọt ngào quyện vào nhau làm cho ca khúc đi vào “bộ nhớ” một cách dể dàng.bởi nhạc anh chú trọng  tiết điệu du dương,nhẹ nhàng,chậm rải,anh thường gieo nhạc ở thể Blues, slow nhẹ (2/4) hoặc Boston (3/4) cho nên nhạc của Khê trước sau là nhạc dịu, đẩy đưa đôi khi làm cho người nghe có một hoài nghi ,lai lai nhạc TCS hoặc Ngô Thụy Miên .Nhưng nói như thế có tính cách võ đoán và yếm thế cho Khê Kinh Kha; ngoài ra anh còn sáng tác những tình khúc mạnh, ào ạt như thể Jazz, Blue Rock nhạc da đen,chẳng hạn ca khúc Nụ Quỳnh Lan và Có Lẽ Anh Yêu Em âm điệu mạnh làm người nghe rơi vào cảm giác chơi vơi,nữa vời đó là một sáng tạo mà anh muốn tìm thấy trong âm nhạc của anh cũng như Phạm Duy đã tìm thấy nhạc mình trong dân ca miền núi, ca dao, hò vè đó là một thử nghiệm khá thành công, ngày nay Khê Kinh Kha cũng muốn làm như thế từ điệu nhạc mạnh sang điệu nhẹ của nhạc ViệtNam.
Khê có một cái hay là biết dụng công âm nhạc cho lời nhạc mạch lạc, nhờ cái tạo vần luân chuyển đan vào nhau tạo cho nhạc có sắc thái mới lạ đó cũng là kỷ thuật người viết nhạc. Tình ca Vì Em Hà Nội Yêu hoặc Tình Thu Yếu ĐuốI nghe một hai lần người nghe nhại lại dể dàng. Khê có lần tâm sự : - những ca khúc của tôi chứa đựng quê hương và tình người, lời nhạc, nhạc điệu,ca từ thông thường, bình dân đưa âm nhạc đến gần với đại chúng. Nhạc KKK hiện thực miêu tả cực độ tình người, tình mây nước trăng sao của đất nước nhiều hơn những chữ nghiã trừu tượng khó hiểu, không trộn thứ tạp nham vào thơ với nhạc, anh cho đó là kịch điệu (drama queen). Ca từ dùng trong nhạc của Khê là lời ca thán ẩn tàn trong nhạc. nỗi niềm mơ ước chung của mọi người.

Tình của Khê Kinh Kha là thứ tình đầy đủ cho người và cho đời.Vì vậy;nhạc, thơ của Khê thường nhắc đến EM đôi khi chữ Em là cớ để mượn ngôi thứ nhất là Tôi thay vào và có khi không còn tính chất nhân dáng cụ thể. Chữ Em trong nhạc và thơ của Khê là một “concept” ý niệm về tình hoài hương tình hiếu đạo lễ nghiã, chẳng qua Khê Kinh Kha không muốn nói huỵch toẹt là “Ta-Yêu-Em” nhưng đành phải cài vào để nói lên cái tâm thức của mình là Tôi (self ) trong cái tình “quê hương là người đó” (Thơ Du Tử Lê).
Nói tóm lại; nhạc thơ của Khê Kinh Kha được coi như một thứ nghệ thuật, một lý giải vừa nội tại vừa khách quan tiềm ẩn trong lòng “cái tôi” của Khê Kinh Kha.Anh vận dụng ngôn ngữ cũng như ca từ tất cả biểu tượng một triết lý nhân sinh thời thượng như một hiện tượng mới cho anh. Những dòng thơ nhạc  của KKK đọc lên hát lên  ta cảm nhận sự tự do, buông thả không vướng bận bất kỳ một ngoại quan nào để được thoát tục đi vào cõi hư vô. Đó là thi nhạc của một người nghệ sĩ đa dạng. Mong sao sự sáng tạo nghệ thuật này có chỗ đứng riêng của nó như mọi người đã có.

VÕ CÔNG LIÊM 
(chestemere tiết sươnggiáng khôngtám)


Nghe Ý Lan hát ca khúc của Khê Kinh Kha ở đây
https://www.youtube.com/watch?v=v3_fxbg7Ojg

THỜI GIAN


nguyễnxuânthiệp

Tranh thơ haiku. Nguồn: Internet

ông basho
một năm lại qua
nón lá đội đầu
chân buộc giày rơm
đi tìm chiếc lá kiri

còn ông thiệp
một năm lại qua
mũ dạ
khăn quàng cổ
đi tìm bông hoa giấy
rụng. tàn
môi ai. nơi góc tường kia

NXT

Friday, March 8, 2019

‘VỀ THU XẾP LẠI...’ KỲ I


Đỗ Hồng Ngọc

Tranh thiền Lê Ký Thương

Gate, gate, pāragare, pārasaṃgate! Bodhi-Svāhā!

LỜI NGỎ

Người ta nói đúng. Mình đang ở tuổi nào thì đó là cái tuổi đẹp nhất, không thể có tuổi nào đẹp hơn! Một người 40 mà cứ tiếc mãi tuổi 20 của mình, một người 60 mà tiếc mãi tuổi 40 thì đến 75 họ sẽ tiếc mãi tuổi 60… thật là đáng thương!

Tôi nay ở tuổi 80. Thực lòng… đang tiếc mãi tuổi 75! Thấy những bạn trẻ… trên dưới bảy mươi mà “gato”! Mới vài năm thôi mà mọi thứ đảo ngược cả rồi. Bây giờ có vẻ như tôi đang lùi dần về lại tuổi ấu thơ, tuổi chập chững, tuổi nằm nôi…

Vòng đời rất công bằng. Chỉ còn cách tủm tỉm cười một mình mà thôi!

Cái tuổi đẹp nhất của đời người theo tôi có lẽ ở vào lứa 65-75. Đó là lứa tuổi tuyệt vời nhất, sôi nổi nhất, hào hứng nhất… Tuổi vừa đủ chín tới, có thể rửa tay gác kiếm, tuyệt tích giang hồ, “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo” (NCT), nhưng cũng là tuổi có thể lại vướng víu, đa đoan nhiều nỗi, để một hôm ngậm ngùi ta là ai mà còn khi giấu lệ/ ta là ai mà còn trần gian thế? (TCS) 

Nhớ hồi ở tuổi 55, mới hườm hườm, tôi ngẫm ngợi, ngắm nghía mình rồi lẩn thẩn viết Gió heo may đã về. Đến 60 thì viết Già ơi… chào bạn! như một reo vui, đến 75 còn… ráng viết Già sao cho sướng?… để sẻ chia cùng bè bạn đồng bệnh tương lân. Nhưng 80 thì thôi vậy.

Đã đến lúc phải “về thu xếp lại” rồi, bởi  “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”… rồi đó thôi!

Khi viết “Gió heo may đã về”, tôi cảm xúc từ nhạc Trịnh, nên đã mượn những ca từ của anh làm tiêu đề cho mỗi chương sách. Trong Lời bạt cho cuốn sách này, Trịnh Công Sơn đã viết: “… Bạc đầu có phải đã chớm già không. Theo tôi, bạn Đỗ Hồng Ngọc ạ, đó chỉ là thay đổi một màu tóc… Tôi nghĩ rằng, không có già, không có trẻ, nói với một người trẻ, tôi già rồi em ạ là vô lễ”.

Thế rồi, đến một hôm kia, anh đã lại viết:
“Ôi phù du/
từng tuổi xuân đã già/
một ngày kia đến bờ/
Đời người như gió qua…”

Tôi nhớ mãi lần đến thăm anh ở phòng Săn sóc đặc biệt Bệnh viện Chợ Rẫy năm đó, trông anh như một tàu lá chuối khô, dán sát giường bệnh, tôi bỗng ngộ, những câu chữ anh viết trong ca khúc thì ra đã đến từ một cõi nào khác, xa xôi, một “mặc khải”, một “phó chúc” nào đó, chớ không phải từ tấm thân tứ đại ngũ uẩn mong manh này. Cho nên khi viết những dòng này, hôm nay, tôi lại nhớ người bạn nhạc sĩ họ Trịnh và lại mượn những ca từ của anh như một đề dẫn…

Những dòng viết này góp nhặt từ những trang nhật kỳ rời, từ những ghi chép lang thang không ngày tháng, rải rác nơi nọ nơi kia, chỉ để sẻ chia cùng bè bạn thân thiết, những bè bạn  cùng trang lứa, cùng tâm trạng.

Rất riêng tư, và rất chủ quan…

Thân mến,
ĐỖ HỔNG NGỌC
(Saigon, 2.2019)

……………………………………………………………………………………..

 1. Cát bụi tuyệt vời…

“Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi,
Để một mai vươn hình hài lớn dậy?
Ôi, cát bụi tuyệt vời
Mặt trời soi một kiếp rong chơi…”
(TCS)

Cái hình ảnh lấy cát bụi vo thành môt cục rồi thổi vào đó một hơi dài để vươn vai lớn dậy làm người thì thật là thú vị. Thú vị ở chỗ nghĩ cho cùng, cái thân xác cát bụi kia một hôm trở về làm cát bụi thì đã là chuyện dĩ nhiên, đương nhiên, tự nhiên, sao còn sanh sự tào lao chi cho mệt. Có điều để cái “cát bụi tuyệt vời…” này trở thành “cát bụi mệt nhoài” thì lỗi tại ta. Ta có thể làm cho cát bụi trở nên “thú vị” được lắm chứ! Cứ như người làm gốm sứ, cát bụi mệt nhoài là bởi thứ cát bụi làm kiểu công nghiệp, hàng loạt, giống nhau như đúc, dù cố vẽ vời chi đó trên gốm cũng vô ích. Cát bụi tuyệt vời là thứ cát bụi rất riêng tư. Nó tùy màu đất. Nó tùy độ lửa. Tùy chất liệu điểm tô không thể tính toán trước. Nó tạo ra vô vàn sự khác biệt. Như người họa sư chới với, kinh ngạc khi nhặt từ lò nung ra một thứ phẩm vật trời cho, tươm bao sắc màu pha trộn quái dị, chảy theo một dòng chảy không thể lường trước…

Phải, chính cái “phần hồn” kia – cái thức –  đã được lưu chuyển từ một kiếp nào xa đó, chằng chịt quấn quít với bao thứ duyên sinh, từ không mà có, từ có mà không, vừa chân không vừa diệu hữu, đã khiến cát bụi tuyệt vời kia một hôm trở nên cát bụi mệt nhoài nọ, với thất tình lục dục, hỉ nộ ái ố… để rồi nhận ra “trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ/ chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà…”(TCS).

Nói không được. Bất khả thuyết. Không từ đâu đến/ chẳng đi về đâu. Nó Như Lai. Khi cát bụi và hơi hướm kia không chịu nhau nữa, giận nhau, cãi nhau, hục hặc, chí chóe, đòi tách nhau ra thì đủ thứ chuyện trên đời sẽ sinh sôi. Cuối cùng thì đến một lúc, cát bụi trở về cát bụi, hơi hướm trờ về hơi hướm… Rã ra. Tan ra. Không thương tiếc. Có một chu kỳ, có một nhịp điệu chăng? Không biết.

Banki, thiền sư Nhật bản, tác giả Tâm bất sinh (bản dịch Ni sư Trí Hải) nói ngay lúc sống người ta nên thuờng xuyên nghĩ về cái chết. Đúng vậy, bởi vì cái sống không tách rời cái chết. Cũng như thở vào không thể tách rời thở ra. Nó là một chu trình khép kín.

Có sinh ắt có tử, có tử ắt có sinh. Hơi vào có hơi ra và ngược lại. Cho nên người đạt đạo họ tỉnh queo, nôm na là họ… giác ngộ. Họ chẳng cần phải bối rối. Họ biết nó phải vậy. Như Thị.

Chu trình “khép kín” đó bắt đầu tăng tốc ở lứa 65-75 tuổi. Tăng tốc khô héo, tăng tốc nhăn nheo. Sự  tăng tốc của lứa tuổi này cũng làm ta há hốc, muốn kêu lên kinh ngạc… như ở tuổi dậy thì, tuổi mới lớn. Cái vòng đời nó diễn biến tuyệt vời đến vậy, liên tục đổi thay đến vậy thì có gì đáng phàn nàn đâu! Nhiều bạn cùng lứa than với tôi sao thế này sao thế khác, tôi thường chỉ nói “Ai biểu già chi?” rồi cười xòa với nhau mà không khỏi có chút … ngậm ngùi.

Anh chàng Alexis Zorba nói: “Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ, hãy thương nó một chút. Cho nó ăn với. Cho nó nghỉ với.  Đó là con lừa kéo xe của ta, nếu không cho nó ăn, nó nghỉ, nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi” (Nikos Kazantzaki). Từ ngày biết thương “con lừa” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho con lừa của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá, đừng nhiều mỡ quá!

Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình. Không ai giống ai. Như vân tay, như mống mắt vậy. Cho nên không cần bắt chước. Chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo. Nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc thì phải cảnh giác!

Thời tôi học y khoa được học tế bào thần kinh không thể sinh sản, mất là mất luôn, hư hỏng thì không thể tự sửa được, không như tế bào ở các mô khác. Ngày nay người ta biết có khoảng 100 tỷ neuron thần kinh và 100 nghìn tỷ kết nối giữa chúng, nhưng thật ra não bộ còn rất nhiều điều bí ẩn chưa thể biết hết. Khoa học ngày nay tiến bộ, cho thấy tế bào thần kinh chẳng những rất nhu nhuyến (plasticity), có khả năng tự thích nghi, tự điều chỉnh mà còn có thể sinh sản tế bào mới (neurogenesis). Chúng có thể kết nối tự bên trong, hoán chuyển vị trí… chứ không phải tập trung từng khu vực cứng ngắc như ngày xưa đã tưởng. Khả năng thay đổi và thích nghi này của não không bị mất đi, tuy khi có tuổi thì các khả năng nhận thức, ngôn ngữ, trí nhớ, suy luận cũng kém đi theo tiến trình chung. Nghiên cứu gần đây cho thấy ở tuổi 80 não bộ vẫn còn tiếp tục tạo nên những con đường mới nối kết bên trong nên vẫn phát triển được.

Bây giờ thời đại cái gì cũng “thông minh” đáng ngại. Không lâu nữa, chắc con người sẽ có đủ “tam minh lục thông” chăng? Tam minh là Túc mạng minh (biết rõ kiếp trước của mình), thiên nhãn minh (biết rõ… kiếp sau của mình), lậu tận minh (dứt tất cả lậu hoặc); lục thông gồm thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông,…

Từ ngày có trang web riêng mình (www.dohongngoc.com/web/) do một bạn trẻ giúp cho, tôi bận bịu với nó nhiều hơn. Rồi nhờ nó mà tôi lần mò học cách post bài, đưa hình ảnh, chỉnh sửa tùm lum… Nó giúp tôi như quên ngày tháng, quên đi những buổi mai buổi chiều buổi trưa buổi tối…  Nhưng cũng nhờ nó, tôi mở rộng việc học hỏi, mở rộng giao lưu, thấy quả đất chỉ còn là một hòn bi xanh trong lòng bàn tay… Và chiếc điện thoại thông minh cũng giúp mình nhiều việc, dù thực tế nhiều lúc thấy nó thiệt là… ngu!

Mắt kém, đọc mỏi, tôi bắt đầu ít đọc báo, ít xem TV – ngày trước, mỗi ngày ngốn chục tờ báo là thường! Nay chỉ đọc lướt qua cái tựa là xong. Thời đại cần cái gì, gõ gõ vài cái có người đưa tới tận nhà! Hy vọng không lâu nữa, họ gởi các thứ qua mạng, bấm nút in ba chiều, muốn gì cũng có… Nghe nói người ta đã có thể “fax” một con người từ nơi này sang nơi khác… giúp ta không phải đợi chờ lâu! Máy móc, kỹ thuật, phương tiện nghe nhìn ngày càng chiếm ngụ trong ta, “thay mãi đời ta”…

2. Tôi chợt nhìn ra tôi

“Có nụ hồng ngày xưa rớt lại
Bên cạnh đời tôi đây
Có chút tình thoảng như gió vội…”
(TCS)

“Chợt” là vì bất ngờ. Nhưng không phải bất ngờ vì tôi thấy tôi. Mà bất ngờ vì tôi chợt “nhìn ra” tôi. “Nhìn ra” khác với thấy. Nhìn ra là “quán”.  Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã chiếu kiến ngũ uẩn giai không… . Quán là thấy rõ (chiếu kiến). Tôi bấy giờ không còn là tôi bây giờ. Tôi bấy giờ là tứ đại, là ngũ uẩn. Và nếu quán một cách sâu sắc hơn, có thể thảng thốt kêu lên: “Bổn lai vô nhất vật”! (Lục tổ Huệ Năng).

Có lần Phật hỏi Duy-ma-cật: Ông quán Như Lai thế nào? Duy-ma-cật đáp: Thì như quán pháp thân của Phật và của chính tôi thôi. Có gì khác nhau đâu!

Nhìn thì có thể thấy khác. Bởi nhìn thì qua mắt, nhãn căn. Quán thì không nhìn bằng mắt. Mà nhìn bằng cả năm thứ con mắt (ngũ nhãn) gồm nhục nhãn (mắt thịt), thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn.  Thú vị, khi quán thì cả Như Lai, Phật và Tôi… đều là một, không khác. Đó là đã thấy pháp thân, thật tướng vô tướng.

Tôi thường tự hỏi tôi khác gì tôi xưa. Xưa ở đây là trước cái hồi tôi bị tai biến mạch máu não phải mổ sọ não cách đây cũng vài chục năm rồi. Câu trả lời là khác. Khác quá đi chứ. Trước hết tôi bây giờ già hơn tôi xưa, già thấy rõ, già tốc hành chớ không phải già lai rai như trước.

Nhiều hôm nhìn vào gương soi, tôi thấy mình như một quả táo để lâu ngày, héo dần, teo tóp, nhăn nheo. Nhưng có cái gì đó như cứng cỏi hơn, tuy quắt queo mà chỉ bay hơi nước, bay cái láng mượt, nuột nà của quả táo căng phồng, ngây thơ, tràn đầy thuở nào. Bây giờ thì co cụm lại, co rúm lại, gom tụ lại vào trong cái hột, cái lõi. Tôi thường tủm tỉm cười, cảm thấy khoái khi gặp môt người bạn trẻ, nghĩa là nhỏ hơn tôi chừng mươi, mươi lăm tuổi, lâu ngày không gặp nhìn tôi kinh ngạc, há hốc, như định kêu lên cái gì đó rồi thôi. Tôi hiểu và dĩ nhiên tôi cũng nhìn người bạn, cũng định kêu lên một cái gì đó, nhưng rồi cũng thôi. Thì ra cả tôi, cả người bạn trẻ đều cùng đã thay đổi, đã già đi mà không hay! Và như Nguyên Sa nói, người ta chỉ có thể đo tuổi mình qua ánh mắt cố nhân!

Tôi biết vòng đời của con người có ba giai đoạn đổi thay rất nhanh. Đó là thai nhi trong bụng mẹ, tuổi dậy thì và tuổi già. Khi trứng thụ tinh thì chỉ hình thành một tế bào, phải soi dưới kính hiển vi mới thấy; đến 3 tháng tuổi, thai nhi cũng mới bằng ngón tay út, vậy mà 6 tháng đã dài hơn ba mươi lăm phân và nặng trên một ký; đến lúc chào đời thì đã dài hơn nửa thước, nặng hơn ba ký rồi. Lớn nhanh như thổi!

Bé sinh ra lớn lên từng ngày, mỗi ngày mỗi khác, nhưng phải đến tuổi dậy thì mới có sự tăng trưởng và phát triển đột ngột. Chừng vài ba tháng không gặp, khi gặp lại cô bé mười ba, cậu trai mười bảy kia ta đã hết hồn, há hốc, kinh ngạc. Nó không chỉ cao lớn mà còn trỗ mã, xinh đẹp, đầy đặn, căng tròn như quả táo muốn tươm mật. Gái thì yểu điệu thục nữ, tóc mượt lưng ong. Trai thì vạm vỡ, hiên ngang, râu hùm hàm én… Rồi đến cái tuổi gió heo may, dìu dịu, nhạt nhòa nhưng vẫn là tuổi năng nổ, hoạt động mạnh mẽ và hiệu quả nhất để rồi chuyển sang tuổi già, tạm coi là sau tuổi 65, một chu trình “khép kín” đã lại bắt đầu: tăng tốc khô héo, tăng tốc nhăn nheo, tăng tốc ngược chiều đủ làm hết hồn, làm há hốc, muốn kêu lên kinh ngạc…

Nó diễn biến tuyệt vời đến vậy, liên tục đổi thay đến vậy thì có gì đáng phàn nàn đâu, có gì mà không thể tủm tỉm cười một mình đâu. Cho nên nếu tôi có gì khác tôi xưa thì chính ở chỗ tôi có phần… khoái cái sự già nua tăng tốc đó của mình, tôi hồi hộp dõi theo nó, tôi cảm thấy nó…hợp lý, nói chung là… cũng dễ thương quá đó chớ!



Ở tuổi 70 chưa thấy già đâu. Thậm chí đến 72, 73 vẫn còn thấy trẻ chán. Những năm tháng đó, khi đến những buổi giao lưu, trò chuyện (Talk) ở đâu người ta cũng nói tôi trông trẻ quá, chừng 60 là cùng. Không phải an ủi đâu. Tôi cũng… thấy vậy. Tóc vẫn đen nhánh, da căng mượt, trí tuệ sáng láng. Thấy có lửa. Thấy thèm muốn. Rồi sau đó, bỗng dưng mọi thứ như trôi tuột, tứ đại đất nước gió lửa gì gì đó coi bộ ai muốn về chỗ nấy, ngũ uẩn sắc thọ tưởng hành thức gì gì đó coi bộ cũng không còn muốn bó trong một bó (uẩn) như xưa nữa mà xục xịch lỏng lẻo dần ra, mỗi thứ cứ muốn tách ra riêng, trở về chốn cũ của nó. Thì ra tôi chỉ là cái được cho “mượn tạm”, “xài đỡ” một thời gian.

Bỗng lầm lì. Hình như ngó vào bên trong nhiều hơn ngó ra bên ngoài. Có vẻ như đang lắng nghe một cái gì đó. Cái mà Trịnh gọi là “tôi đang lắng nghe… im lặng đời mình”, hay lắng nghe “lời mời đã dậy”…  Các hormone bắt đầu cạn dần, cạn dần. Mọi thứ đã “lập trình” đâu đó từ trước. Tùy mỗi người. Không phải cứ muốn mà được. Điều quan trọng người ta phải chấp nhận mình là. Nghe tin người nọ người kia tự nhiên mà quên hết, tự nhiên mà không nhớ mình là ai, không nhớ ai là ai. Chụp ảnh não bộ thì thấy teo, teo ở một nơi nào đó, làm mất trí nhớ dần. Thật đáng sợ và cũng đáng tức cười. Tự nhiên mà nhớ rồi tự nhiên mà quên. Có người phải tu tập khó khăn lắm mới buông bỏ được, mới quên được, có người tự nhiên mà quên tuốt tất cả mọi sự đời, chẳng cần phải tu! Hôm qua, nghe tin người bạn cùng tuổi, cách đây 60 năm vào cùng trường cùng lớp với mình tự dưng quên cả tên vợ con, quên cả đường đi quanh nhà. Anh vốn là một nhà toán học, mà bây giờ không biết cả hai với hai là bốn. Một bạn khác, vốn là một nhà quản lý có tiếng ở một bệnh viện lớn ngày xưa mà nay cũng không nhớ nổi tên mình! Một người bạn hứa cùng đi chơi, giờ chót xin lỗi vì không mặc được quần vì thấp khớp…  Quên chìa khóa, quên mắt kiếng, quên điện thoại, quên số nhà, không biết đường về… thì thường xuyên rồi. Con đường mòn của ký ức đã trục trặc, vấy bẩn hay vì những nguyên nhân gì khác không biết.  Quên ngày tháng, quên nơi chốn. Nói điều gì xong quên ngay. Hỏi đi hỏi lại mãi. Ăn mặc luộm thuộm. Thích đi lang thang. Rồi đến lúc không thể tự săn sóc cho mình được nữa, phải hoàn toàn lệ thuộc. Nghĩa là người ta cứ từ từ trở lại tuổi nằm nôi, từ biết đi biết chạy đến đứng chựng, biết bò biết lật rồi… Giận hờn, trách móc, lo âu, trầm cảm, còn thêm nhiều thứ bệnh ập tới không thương tiếc. Rồi té ngã, loét da, táo bón, tiêu tiểu không kiểm soát… Già ấy là lúc cạn, lúc teo, lúc héo. Thích nghi không dễ. Biết để mà thương, mà chấp nhận mình.

Nhiều khi, sáng dậy, nhìn vào gương soi tôi lại thấy tức cười. Tôi đó sao? Nhăn dần từng nét ngộ nghĩnh trên mắt trên da. Đôi khi muốn lấy viết vẽ nguệch ngoặc gương mặt thay đổi từng ngày của mình, từng ngày nhưng rất nhanh, thấy rõ chứ không như ngày xưa, nhiều năm mới nhận ra nét đổi thay. Tôi tức cười nhìn mình. Nó nhìn tôi cũng cười. Ngộ nghỉnh. Cười mà ráng. Không ráng thì nó trỉu nặng. Mấy tế bào của cơ mặt hình như sinh tật làm biếng, xệ xuống cho khỏe.

Tôi thường tự hỏi, tôi bây giờ khác gì tôi xưa? Khác nhiều chứ. Tôi tập xả hơi. Tôi tập xì hơi. Nhiều khi thử xả cho tận kiệt xem sao. Tôi thử bịt mũi từng tế bào, coi nó ra sao? Tôi thử thả trôi nó coi nó ra sao. Tôi tách thân xác ra khỏi thân hơi coi nó ra sao. Trần Nhân Tông nói có lý: thân thể y như cái túi da. Là bác sĩ, tôi còn biết túi da đó đựng những gì nữa! Không chỉ thấy là xương là thịt, là mỡ gì đó đâu, tôi còn thấy đến tận những chất liệu Carbone (C), Hydrogen (H), Nitrogen (N), Oxygen (O) và chừng 60 món vô cơ khác từ sắt đồng chì kẽm mangan, vôi vữa… các thứ câu kết ra sao, thay đổi ra sao, hùng hục, huỳnh huỵch với những phản ứng hóa học ra sao.

Tôi ăn cũng khác mà ngủ cũng khác xưa. Bây giờ tôi thấy ngủ cũng chỉ là cách cho cơ thể nghỉ ngơi, giảm tiêu hao năng lượng, cho tế bào não sạc pin, phục hồi, tế bào cơ thư giản. Nếu có cách nào khác làm cho tế bào cơ thư giản, hết co cơ, tế bào não hết sinh sự, kiếm chuyện, thì tôi cứ để cho thân thể tự dàn xếp. Cơ thể tự biết cách thu xếp. Nó biết xì hơi, xả hơi. Thường thì nhờ vậy, tôi ngủ lúc nào không hay. Kệ nó. Nó muốn thức dậy giờ nào thì cứ cho nó dậy, ngủ tiếp thì ngủ. Mỗi ngày cũng mất 7-8 giờ cho chuyện ngủ nghỉ này. Pin đủ, đầu óc sáng suốt, trí nhớ tốt, nhạy hơn hẳn. Trưa cũng cần sạc pin chút xíu.

Lâu nay tôi hoang phí năng lượng vào những chuyện không đâu,  cho nên cơ thể căng cứng, rả rời, lúc nào phổi cũng phải bơm hơi cho kịp, tế bào cũng phải quần quật hì hục sản xụất năng lượng. Bây giờ tôi chủ trương thở vừa đủ xài. Xài ít thì thở ít. Bộ não có chút xíu, có 2% thể trọng mà họat động cực kỳ mạnh mẽ, tiêu thụ đến 25% khối lượng Oxy đưa vào cơ thể. Nếu có cách nào làm cho não nghỉ ngơi thì giảm được sự mệt nhọc. Còn khi có tranh chấp, căng thẳng thì … cơ sẽ căng cứng, cứ y như những con thú rừng, sẵn sàng tư thế chiến đấu  hoặc bỏ chạy (stress). Toàn bộ cơ mà căng thẳng vậy, nhu cầu năng lượng tăng gấp… 4 lần!

Ghi tiếp “Nhật ký rời”: Chỉ còn mấy ngày nữa, đã đầy tám chục (tuổi ta). Phải nhanh chóng ghi lại vài điều kẻo quên.Thứ nhất, ở tuổi này tôi thấy tay mình ngày càng run. Làm cái gì mà cẩn thận thì đổ vỡ. Làm cái gì không tính trước thì được. Tùy cơ ứng biến thì tốt. Tay run đến nỗi viết cũng khó mà vẽ chơi cũng khó. Tôi phải vẽ kiểu “tốc họa”, vẽ như chớp, theo một cảm xúc bất chợt, không toan tính thì tốt. Ai bắt chước được cái run?

“Già khú” là giai đoạn một, thêm một bước nữa thì gọi là “già khú… đế”. Khú, Từ điển tiếng Việt bảo là “để thâm lại và có mùi hôi”, thí dụ dưa khú, tức là một thứ dưa để lâu quá, sắp hư. “Khú đế” là “vua” của khú đó chăng?

Sai lầm lớn khi ta nghĩ rằng già sẽ đến từ từ. Cứ từ từ mà thích nghi. Không đâu. Già nó xồng xộc trên trời rơi xuống, dưới đất vọt lên. Không những xồng xộc nó còn gia tốc, tàn bạo như cơn sóng vỗ vào bờ đá, vội vã để mau chóng nhập vào dòng nước cuồn cuộn đuổi theo sau. Nó mạnh mẽ và tàn nhẫn, tung tóe, tan tác, lắng chìm, không một chút xót thương. Nó lãnh đạm bởi nhiệm vụ nó phải thế. Nó thú vị bởi nó không phân biệt. Giàu nghèo sang hèn, da trắng da đen… Còn ta, ta chần chờ, làm ngơ… Đi đâu mà vội… Không đâu! Một hôm già bỗng chuyển hệ sang già…khú, rồi khú đế đột ngột làm đảo lộn mọi thứ tính toan. Bây giờ tôi thấy mình lạc lõng, ở đâu cũng lạc lõng. Với lứa trẻ, mình lạc lõng đã đành mà với lứa trung niên mình cũng bị… loại sớm. Bạn già cũng rơi rụng đâu mất dần.

Một người bạn điêu khắc gia có tiếng nắn tôi cái tượng chân dung. Anh không nói trước. Một hôm, kêu lên nhà café chơi. Tôi đến. Anh mang tượng ra, bảo, ngồi yên chút cho anh retouch lại. Lúc đó mới biết. Tôi nhìn anh hý hoáy gọt gọt giũa giũa… thấy ngộ, bèn cũng hý hoáy vẽ  anh với bộ râu đặc biệt. Anh không biết là tôi đang vẽ anh. Xong đâu đó, trao tặng anh. Anh ngạc nhiên, vui lắm. Tượng sau đó tôi mang về giấu kỹ. Mười lăm năm trôi qua từ ngày đó. Tình cờ nhìn lại tượng, tôi giật mình: râu tóc đã bạc phơ. Nhăn nhúm đã tràn đầy!

Lạ thiệt!

ĐỖ HỒNG NGỌC

(còn tiếp)

PHỐ ÔN NHƯ HẦU


nguyễnxuânthiệp

Phố cổ. Tranh Bùi Xuân Phái

hồn trà mi
phố khuya
tôi đi từ cổ độ
về qua lối phù dung
thấy ngọn lửa vô thường. cháy
gầy yểu
mảnh trăng treo nóc nhà
lặng nghe
mùa trong cây
ngọn gió thu thổi rộn, rạp mái đường thi
gạch trong gạch. đá rổ. tường so le
khúc khủy. lối xe bon
cành khô gãy
dội âm u
phố người
mấy thuở chưa phai vệt máu ngày đi
thời gian
thời gian
mở mắt
những ngọn đèn cửa ô xưa
xanh cây. xanh khuya
phần thư xanh
về phố ôn như

hỡi ôi
một lần qua cầu thệ thủy
thấy người
và mây
trôi
trôi hết những tà huy

1986
NXT