Friday, February 22, 2019

LÀ HỤI LÀ KHOAN. THÁNG GIÁ


Hoàng Xuân Sơn


là hụi là khoan

Giây phút  bên nhau. Photo by Trần Đại  Lộc


nhớ tác động viên Trần Đại Lộc

tui hâm hâm
giở ấm đầu
ra khỏi mỏ ác
tìm câu khoan hò
là hụi (nì)
thúng đã đầy tro
là khoan (hí)
hốt cái lò mò đem chôn
khoan rằng:  no góp đói dồn
hụi/khoan bỏ chợ đem con tội tình
tui ương ương
gi(d) ở tấm mình
khoan hò khoan hụi
bóng
hình
ở mô

mười hai tháng hai mười chin


tháng giá

mặt trời âm âm
mặt mình bì bì
ngày đông rờ rẩm
chút nắng từ bi

chớ đứng xớ rớ
tuyết phủ cô hồn
gió luồn tim mạch
ạch đụi bàng môn

em ơi em ơi
giá như mình còn
đội thêm cái nón
mang thêm cái dù
trời tối hù hù
đất chờ quang quẽ
mình chờ khoe khỏe
vọc lại chút màu
lâu rồi.  thiệt tệ

lâu rồi kiệt quệ
còn chi em ơi
còn một chút đời
vo như tờ giấy
ngồi đây quên đấy
còn một dúm tro
miệt mài tra lão
còn chút mày mò
răng cỏ lộn lạo

HOÀNG XUÂN SƠN
feb. 7, 2019


NGÀY TRỜI MƯA MÙ MÙ. GẶP BẠN KỂ CHUYỆN CÁI ẤM ĐẤT


Đinh Cường

Nguyễn Tường Giang – Đinh Cường
Ảnh PCH – Chantilly, August 23, 2014

Sáng chủ nhật trời mưa mù mù. tuyết đông trắng xóa
gặp Nguyễn Tường Giang ở Phở Xe Lửa
cùng đi với Nguyễn Mạnh Hùng
tôi nói với Giang. 3 giờ khuya đêm qua tôi
thức dậy. đọc Cái ấm đất và bộ chén trà
Nguyễn Tuân tặng Thạch Lam
trên Xuân Người Việt hay quá. lời văn đẹp quá
Giang nói cũng nhờ Nguyễn Tường Thiết
nhắc mới nhớ. và Thiết nói viết bài
về bộ ấm trà nhiều kỷ niệm đó e hay

và Nguyễn Tường Giang đã viết. rất kỹ. xem lại nhiều tư liệu
yêu biết mấy cái ấm Thế Đức màu gan gà. chập chùng tình bạn quý
như được nhìn thấy căn nhà tranh vách đất
nằm bên cạnh Hồ Tây, một bụi tre khẽ lay động
những cành liễu rũ xuống lấp lánh lá còn ướt sương .

Căn nhà Thạch Lam đã ở đã viết đã ra đi. ba mươi hai tuổi [1]
ba ngày sau Nguyễn Tường Giang người con trai út ra đời
Sau khi cha tôi mất, mẹ tôi chỉ nán ở lại căn nhà cây liễu
cạnh Hồ Tây đôi ba tháng, bà tôi vì thấy cảnh nheo nhóc
của ba đứa cháu nội, cho người đón chúng tôi về trại Cẩm Giàng

Cẩm Giàng cái tên thật đẹp như gắn liền với giòng họ Nguyễn Tường
Trong ký ức xa thẳm nhất của tôi về trại Cẩm Giàng là cái hàng hiên rộng
và dài có rặng hoa ti-gôn rũ xuống và tiếng còi xe lửa rúc lên trong đêm khuya... [2]
đẹp sao một thời Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường. Giang đã về đã nhớ :

Chiều, mưa bụi đã bay
à ơi cơn gió ẩm ngày
sao lòng con ấm những ngày năm xưa [3]

Tôi đọc đi đọc lại. như thấy ấm lên một màu nâu xưa cũ. bức tĩnh vật rồi sẽ vẽ…

Virginia, Jan. 5, 2014
ĐC


Chân dung Thạch Lam,
sơn dầu trên carton 30 x 40 in, dinhcuong,  2004

[1] Thạch Lam, tên thật Nguyễn Tường Lân, sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910  tại Ấp Thái Hà - Hà Nội, mất ngày 27 tháng 6 năm 1942 tại Yên Phụ - Hà Nội.
[2]  Huyện Cẩm Giàng (bây giờ là thị trấn) nằm trên con đường sắt Hà Nội - Hải Phòng thuộc tỉnh Hải Dương.
( Nguyễn Tường Thiết - Nhất Linh Cha Tôi , Văn Mới xuất bản 2006, trang 170 )
Những chữ in xiên khác: trong bài viết của Nguyễn Tường Giang trên Xuân Người Việt 2014
[3] Khi Qua Phà Bính , thơ Nguyễn Tường Giang - Khói Hồ Bay, Thạch Ngữ xb 2012, trang 135.

Wednesday, February 20, 2019

TỪ BI VỚI CHÍNH MÌNH


Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Minh họa Đỗ Trung Quân

Ngậm ngùi bởi tiếc nuối tuổi trẻ đã trôi qua lúc nào không hay. Ngậm ngùi phải chi hồi đó thế này thế khác… Hình như ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai, nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống.

Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ. Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú. Tóm lại, ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại.

Từ ngày “thế giới phẳng”, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với bạn nhưng chuyện trò với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện thì nhiều khi đã lỡ nhịp.

Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn. Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa. Hiện tại thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ vị lai. Dĩ nhiên, không phải trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá.

Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình, thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75. Vậy sao ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải… nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa.

Ta cũng có thể gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch… Cơ thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn của nó, không cần biết có ta. Mà hình như, càng nguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ.

Trái lại nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó một chút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn. Anh chàng Alexis Zorba nói: “Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ, hãy thương nó một chút, cho nó ăn với, cho nó nghỉ với. Đó là con lừa kéo xe của ta, nếu không cho nó ăn, nó nghỉ, nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi” (Nikos Kazantzaki).

Từ ngày biết thương “con lừa” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho con lừa của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá.

Một người cô tôi mắc bệnh “ăn không được”, “ăn không biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương bà quá, mua toàn sữa Mỹ đắt tiền cho uống. Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được. Giá nghèo một chút còn hay hơn. Cá kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn bà ăn thấy ngon, thấy sướng. Tôi cũng biết cho con lừa của mình ngủ hơn. Ngủ đầy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được.

Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: “Cơ tắc xan hề khốn tắc miên” (Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền) trong bài Cư trần lạc đạo (Ở đời mà vui đạo). Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nước ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc, xong, phủi tay lên núi tu tiếp.

Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác.

Cũng nhớ rằng tới tuổi nào đó, tai ta sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đầu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi. Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe, không thì đóng lại mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.

Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành.

Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình. Chính cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai, nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.

Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả. Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút. Nhưng muốn vậy, phải… chuyển đổi cách thở. Thở ư? Đúng vậy Một bác sĩ có thể biết rất nhiều về bộ máy hô hấp, về cơ thể học, sinh lý học, bệnh lý học của bộ máy hô hấp nhưng chưa chắc đã biết thở. ĐỖ HỒNG NGỌC

Mời đọc bài của Đỗ Hồng Ngọc ở đây:


TUYỂN TẬP THƠ TÔ THÙY YÊN

Tô Thùy Yên. Đinh Cường vẽ

Thơ Tô Thùy Yên. Photo by Trần Hoài Thư

     Chúng tôi vừa nhận được Tuyển Tập Thơ Tô Thùy Yên, Kẻ Sĩ xuất bản 2019. Sách được khâu chỉ, bìa cứng, bọc bìa láng. Dày 360 trang. Đây là món quà văn chương quý giá của Tô Thùy Yên do nhà thơ Phan Xuân Sinh gởi đến. Xin trân trọng cảm ơn hai nhà thơ Tô Thùy Yên và Phan Xuân Sinh.
     Mở ra xem: Bìa màu xanh lam nhẹ ánh bạc, chỉ đề giản dị bằng chữ nhỏ: TÔ THÙY YÊN – TUYỂN TẬP THƠ.
     Nhà văn Trần Doãn Nho giới thiệu trên Người Việt Online: Đây là một tập thơ bìa cứng, trang nhã và đơn giản. Chỉ trừ vài dòng cám ơn một số bạn hữu như Hoàng Kim Oanh, Nguyễn Anh Khiêm, Huy Phương, Nguyễn Thanh Châu và Trần Hoài Thư đã giúp tìm thêm một số bài thơ thất lạc, tập thơ không có lời tựa, cũng không trích dẫn lời giới thiệu của bất cứ nhà văn hay nhà thơ nào. Ngay cả tiểu sử cũng vô cùng ngắn gọn ở phần phía trong của bìa sau: Tô Thùy Yên (Đinh Thành Tiên). Sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định. Học tại Gia Định và Sài Gòn. Viết từ cuối thập niên 1950. Tại ngũ từ 1964 đến 1975. Tù Cộng Sản 13 năm. Tị nạn tại Hoa Kỳ từ 1993.
     Tác giả cho biết tập thơ không bán, chỉ để ký tặng. Chi phí in ấn tập thơ do nhà thơ Đỗ Quý Toàn (tức là bình luận gia Ngô Nhân Dụng) và bác sĩ/ca sĩ Bích Liên trang trải.
     Nguyễn cầm tập thơ trên tay mà lòng rưng rưng xúc động. Lần giở từng trang, thấy bài đầu tiên là Thi Sĩ, bài tiếp theo là Cánh Đồng, Con Ngựa, Chuyến Tàu… Tới nữa, tới nữa, thấy Mùa Hạn, thấy Tàu Đêm và Ta Về, và Sáng Nay Ta Còn Đi Bên Nhau rồi Thắp Tạ in riêng ở cuối sách.  À ra đây là một tập hợp những bài thơ TTYên đã làm trong đời. Một đời người một cuốn sách. Một cuốn sách một đời người. Ôi, sao thiết tha và bi phẫn thế này. Như Ly Tao của Khuất Nguyên. Như Sử Ký Tư Mã Thiên. Không đến nỗi ‘văn chương vô mệnh / lụy phần dư’*… Mà đây là di sản để lại đời sau.
    Với Nguyễn, từng đọc thơ Tô Thùy Yên, cả những bài còn trong dạng bản thảo hồi ở chung trại tù Yên Bái Cẩm Nhân, Nghệ Tĩnh… thì tập thơ đã mở ra những khung trời thuở xưa và Nguyễn thấy lại: Phá Tam Giang nơi chiếc trực thăng vần vũ, Phượng thành nơi Nửa khuya vua trẻ rời kinh khuyết / Từ đó thâm cung lạnh lửa đèn / Trường thành nhiều chỗ đã sụt lở / Thương em còn thơm hồn nhãn sen, Sông Hằng khuya rồi nước đã đầy trăng, và về lại ngôi nhà cũ hoa bưởi hoa tầm xuân vẫn nở / trong vườn không hết những mùa hoa…
   Nhiều, nhiều lắm những điều ta gặp được trong Tuyển Tập Thơ Tô Thùy Yên. Trên chỉ là những gợi mở. Người đọc sẽ tự mình đi vào cõi thơ rực rỡ vô cùng tận để nghe Tiếng biển lời rừng nao nức giục / Ta về cho kịp độ xuân sang. Ở trên có nói: Một đời người một cuốn sách. Một cuốn sách một đời người. Trong tâm thái đó, Tô Thùy Yên đã chọn rất kỹ những người được tặng thơ.  Trước hết và trên hết là vợ hiền Huỳnh Diệu Bích rồi đến con cháu, bạn bè và những hình bóng thân yêu đi qua đời ông. Như vậy là trọn vẹn một đời thơ.
NXT

THƠ CỦA TÔ THÙY YÊN

Đi về

Khuya rồi, nước đã đầy trăng
Đi về suốt bãi sông Hằng, gặp ai?
Lạnh trời, đâu lửa hơ tay?
Đêm còn, cứ bãi sông này lại đi
Thấy gì chăng, chẳng thấy gì
Nước rào, trăng rạt, ta thì mỏi mê...
Chầy khuya, nước ủ trăng ê
Uổng công, bãi ấy đi về một ta...
Mãi rồi trời cũng sáng ra
Phần trăng trăng lặn, phần ta ta về
Vẫn sông, vẫn bãi bốn bề
Sang đêm, ai nữa đi về, gặp ai?


Trường Sa hành

      Toujours il y eut cette clameur,
      Toujours il y eut cette fureur...
                                (Saint John Perse)

Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo...
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm, tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu dòn như tiếng nứt hoa niên

Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người

3-1974
TTY