Wednesday, July 24, 2013

THƠ CHIÊU ANH NGUYỄN


di chúc 



                                         Cẩm chướng. Đinh Cường

Đau đớn hoang như bờ cũ
nẻo về  chấp chới cánh tơ buông
chiều đọng nghiêng lưng lũ tà dương
tịch mịch khối ngậm màu mây ửng
núi thấp sông lờ đờ kí ức
thuyền về ngược phía thượng nguồn say 

ngọt mềm cỏ vướng gót gìày
ảo não mộng phù trầm len lén
dìu dặt gói u tình trong ngách tối
bàn tay nào chạm bàn tay!
khói nhang trầm bên phố xưa này
chứng đôi điều nhân gian chưa từng hiểu
cơn mơ về ngang đền miễu
đẫm mồ hôi choàng tỉnh giữa đêm
... 
phải biển mặn sông sầu
tụ lại nơi  người mềm như sóng
đất thâm u nuôi hình hài mỏng
dư chấn ngầm
buông tay
đồi hoa vàng nhẹ khói hương này

chôn chặt tiếng cười não mộng
góc phố đồi thông,
chiều lặng nửa vòng tay ôm chặt
di chúc cuồng
mối tình trong vắt
lìa đời! 

C.A.N

 

 

Thursday, July 18, 2013

TẠP BÚT LƯU NA


Phan Nhật Nam giữa chúng ta



Giữa một buổi ra mắt sách, tôi thấy một bóng hình.  Một cái đầu bóng lưỡng, một ánh mắt đã tà, đã mỏi với thời gian.  Tôi tiến đến gần xin chụp một bức hình, và trước khi lời yes or no được buông ra, tôi bấm đại vài bức rồi mới trả lời: Dấu Binh Lửa !!!  Dấu Binh Lửa huơ tay, “đó là một người khác.”  Lời nói như tự cáo, một xác nhận ngậm ngùi.  Nào phải tôi không biết không hay, vì chính tôi cũng thấy mình trong cái bể dâu đó.  

Phan Nhật Nam, tôi chắc lứa 20 của tôi khi đến đất này ít nhiều biết tên, nghe nhắc.  Tôi không phải là người lạc quan để tin rằng ai cũng biết PNN, nhưng có lẽ cũng khó để không biết đến một người đã gắn liền với những tang thương của đất nước _ bằng tuổi trẻ  trong chiến tranh, lao tù khi kết thúc, và bằng chữ viết _ nói với mọi người chung quanh những tâm tình những nghĩ suy, và nhất là, những “lẽ thật” khi đã đi qua đoạn đường khổ ải với người cộng sản. Trong bước tha hương, chữ viết là điều duy nhất nối tôi với quê hương bỏ lại.  Nhưng những hàng chữ của Phan Nhật Nam mở ra một quê hương nhức nhối, mở ra những mảnh đời vốn hiển nhiên chung quanh mà lại là một bí mật mới được khám phá _ người lính, người dân vùng lửa đạn, những nạn nhân trong cuộc phong ba…  Đau khổ của quê hương, của con người, qua Phan Nhật Nam, thật khôn kham.  Tôi cứ lẽo đẽo theo ngòi viết ấy, nửa ngán ngẩm nửa mụ mị, sau cùng phải nhắm mắt quên đi và cấm mình không đọc nhiều thứ sau khi đọc những lời đã viết ấy.   

Có lần vào trang nhà Hợp Lưu thấy bài “Gặp Lại Phan Nhật Nam Trên Quốc Lộ 1” của Trần Vũ phỏng vấn Phan Nhật Nam, tôi ngần ngừ không dám đọc sợ mở lại vết thương ngày cũ, nhưng rồi vẫn phải đọc.
Đã.  Trần Vũ hỏi những câu thật đã.  Ngoài kia chắc có nhiều bạn đồng trang lứa như tôi, muốn mà không biết hỏi sao hỏi gì và Trần Vũ đã hỏi hộ.
Cảm kích.  Vì như Trần Vũ nhắc, tôi sinh ra là người quốc gia, và đọc ông Nam rồi thì thành người quốc gia, phải vậy, không thể nào khác.

Trần Vũ đã đẩy cánh cửa thời gian, mở ra, và nhìn vào cánh cửa đó tôi tìm lại được những bóng người xưa mà mình đã bắt gặp thuở 20 trên đất khách: “Hơn một khám phá chiến tranh, tôi khám phá chân dung của người lính Cộng Hòa mà tôi thực sự tin vào những điều anh viết. Chân dung của người lính miền Nam, cao cả, bình lặng, bi tráng trên một đất nước điêu linh, trầm thống  Cảm nghĩ tâm tư, cái điều rất riêng của Trần Vũ bỗng dưng thấy như của mình…  Nhưng, ông Nam là một hình ảnh hơi khác biệt, một hình ảnh với “cái gì đó thật con người, cực kỳ cô độc lặng lẽ giữa sắt thép hỗn độn ầm vang.”  Ngoài cái gánh 36 kg trên vai 50 ký, ông Nam còn tự quàng thêm vào mình cái ách tiếng lời cho sự thật. 

Khói lửa chiến tranh nhìn tận mắt và số liệu tư bề để trưng dẫn, ông Nam có điều kiện để gióng lên lời, có lời để gióng.  Ông kêu gào ông thiết tha.  Những sự kiện sống tươi không chỉ có máu cuả anh em, khổ đau cuả người dân, mà có cả mảnh hồn của người lính trẻ.  Mà gánh nặng nói lên sự thật là của muôn dân của tất cả chúng ta, sao thấy như ông Nam mãi đơn độc.  Những ảnh hình những đớn đau.  Không thể nào đọc ông Nam mà không xúc động tâm can.

Qua chiến tranh, sống là cái tội, “nếu không chết được thì người ta sẽ sống thản nhiên với tất cả mọi hoàn cảnh.”  Mấy mươi năm sau, bầm dập đòn đày đoạ của cả 2 phía, ông vẫn miệt mài gióng tiếng kêu.  Bền bỉ dù mòn mỏi hụt hơi.  Nhưng nói sao cho đủ.  Thanh bình lặng lẽ, trại cải tạo và xã hội tha hoá, phận người tàn mạt như kim giữa đống rơm gai như chứng liệu bị xóa nhoà, “em ơi biết đâu tìm.”  Làm sao nói lên được hết cái ác và tráo trở tinh vi trong hơi thở trong máu tim của người cộng sản, cái thờ ơ ngây thơ của người Việt ở xứ ngoài.  Người lính viết văn đâm loay hoay, chữ nghĩa nó phụ bạc người.  “Đêm tận thất thanh.”  Ông Nam bị chữ nghĩa nó đè.  Nhiều khi đọc những lời đầy rối reng sau này mà ngậm ngùi_ổng đang lên đồng, hằng bị lên đồng và bị bà nhập !!!   

Cách đây 5,7 năm, Hoàng Khởi Phong có hỏi Phan Nhật Nam trong chương trình truyền thanh, đại khái là sao bây giờ đọc ông (PNN) khó quá.  Hỏi ông chuyện chữ nghĩa là đã quên câu trả lời sẵn của ông từ thời Pháp đô hộ: tôi chỉ là người lính viết văn (chữ lính đúng ra phải in đậm viết hoa, và biết rồi, khổ …)  Bây giờ Trần Vũ hỏi, mà hỏi những điều ông đã viết chứ không hỏi chữ nghĩa của ông là đã rà trúng đài, đã đánh thẳng vào nội thành, đã pháo kích trúng mục tiêu.  Địch có muốn lên đồng (đã muốn) cũng không thể nào trật quỹ đạo.   

Trúng đài, đại ca nói thật đã.  Chữ nghĩa nó tự tìm mình và thỏa hiệp với ý mình.  Phan quân của Võ Phiến, với chút trân trọng quý mến và chút khỏang cách cho một nền nã kỷ cương, vẫn còn đây.  Nhưng có lẽ Phan nhật Nam của dấu binh lửa vẫn chỉ là cánh chim nặng nặng buồn buồn trên phá Tam giang.  Anh vẫn còn đây.  Những người lính, những người muôn năm cũ ấy vẫn còn đây.  Tháng Ba Gẫy Súng: “ tôi là lính chuyên nghiệp” và “tôi” nói chuyện đồng đội tôi.  Dấu Binh Lửa: “tôi là quân nhân chuyên nghiệp, biết tuân lệnh và biết ra lệnh,” và tôi cũng nói toàn chuyện của những anh em tôi, thêm phần cho những nạn nhân không tiếng không lời.  Nhịp nhàng, hoà điệu, dù chưa hề và không hề ăn ý với nhau, không có chính ủy nào chỉ đạo.   

Holocaust, điạ ngục giữa trần gian, đã được ghi lại vào lịch sử, nhưng thấm xót lòng người là những dòng trẻ thơ cuả Anne Frank.  Lao cải của Trung quốc vĩ đại dĩ nhiên khó quên, nhưng càng khó quên với những lời của Trương hiền Lượng.  Với Phan quân, ngoài những sự kiện như 3 lữ đoàn trưởng và 10 tiểu đoàn trưởng trong 12 tiểu đoàn dù đã có mặt ở trại tập trung, chữ viết và hình ảnh như lên đồng thường trực của Phan nhật Nam là lời chứng mạnh mẽ nhất phơi bày sự ác và những gì đã _ đang bị bôi xoá. 

Đọc những câu hỏi và trả lời tôi ước mình được góp mặt.  Trong nỗi ước ao tôi tưởng tượng hình ảnh Trần Vũ với sơ mi trắng quần soọc xanh, và tôi trong bộ áo cộc trắng_2 đứa trẻ đứng trước bức tượng sống Tiếc thương-Phan Nhật Nam.  Vẫn biết là người thật nhưng vẫn phải chọc 2 ngón tay nhỏ nhoi qua lớp áo thấm bao máu xương nước mắt mồ hôi và khổ đau để biết sau lớp áo đó là xương dù đã muốn hóa đồng, là thịt dù đã ngả màu đồng.  Nụ cười son trẻ sau bìa sách chỉ còn là một hình ảnh xa mờ.  Người lính Tiếc thương ấy vẫn bước dù mệt mỏi, đi cho hết quãng đường trần còn lại, đêm ngày.  Và nhìn mình như chút cặn nước sau cuộc bể dâu. 

Tôi đi Mỹ cứ như hắt cặn nước. Tôi đi Mỹ nhẹ tênh vất điếu thuốc. Quê hương gầm gừ khinh miệt. Đất xa trọn chốn lưu đầy... 

Những lời choáng váng.  Sự thật, cảm giác thật, xông thẳng vào tim mình bằng những lời giản dị.  Khi quên mất bổn phận tiếng lời, ông Nam có những chữ đau đớn và muôn vàn thấm thía.  Lời chứng gói trọn phận người.  Hình như thời nào cũng có những người bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh.  Làm sao tôi không mãi thấy nợ nần những người lính ấy, và một món nợ chữ nghĩa với Phan Nhật Nam.   

Từ ý nghĩ viết xuống cho riêng mình đến nay, Cao Xuân Huy đã đi xa, Lê Thiệp vừa từ giã.  Còn lại giữa chúng ta,  

Khói mù nghi ngút ngàn khơi
Cánh chim bạt gió lạc loài kêu sương 

Phan Nhật Nam, Phan Nhật Nam

 

 

Lưu Na

07/17/2013

THƠ HOÀNG XUÂN SƠN



đ ọ c.  c o l l a g e  n g u y ễ n  x u â n  t h i ệ p
                                                    
                                                       
  

       Abstract painting by Mario Zampedroni
 
                                                            trên bãi chiều cancún
                                                            có thể biển thẩm xanh

sao.  cả đất trời màu đỏ rực
màu của nhức nhối
vết thương sâu phố núi bụi mù
cuộc chiến lên tầm vĩ thanh
mỏng manh chiếc lá vông
đóa nhạc dạo đầu rung điều có thực
ở mênh mang ngoài cành
không giới hạn
                        tin văn
vùn vụt băng đường chuyến hành quân
vụt chết
dưới tàn sao hỏa
ôi đá tảng vườn nhà
im ỉm
chẳng là màu của hạnh phúc
ôi hoa
biết nói lúc mười giờ
tận cùng nỗi đắng ác mộng
đã lắng sâu khi rời
giờ

gió giật móng gào giờ nguyệt tận
đường xưa
liếp thổi qua hồn
tôi cùng gió mùa bao lâu
tự do tự do
trên bầu trời loài chim
hải điểu ngáp gió chần chừ
nắng quảng trường gầy bóng phố

chiêu anh
đằng đằng các nguyễn ơi
mùi dạ lý khuya chật
giọt nồng nàn tim
và người                      mãnh liệt
ôm lấy triền ba mươi đất nước
lũ côn đồ buôn mặt nạ
là trăng khai mã tấu
vẫn máu độ cờ
màu nhức nhối
bề gì mẹ cũng để lại gia tài
mắt hoắm sâu 

HOÀNGXUÂNSƠN
21 juin 2013
với Hiếu/Tú

 

 

ĐOẢN VĂN NGUYỄN THỊ THẢO AN


lời ai điếu cho một bài thơ dở
 
 
 

  Xin nói ngay đầu bài, tôi không có ý định chê bai hay châm biếm ai. Bài thơ và người làm thơ đó đã mất tích từ lâu lắm. Bây giờ, chính tôi cũng không còn nhớ nữa. 

  Tôi vốn mê thơ từ hồi nhỏ.
  Bắt đầu là mê những lời mẹ ru, rồi lớn lên, ê a những bài vỡ lòng lớp Một.
 
Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần
Mai anh học xa
Tiền bạc là của mẹ cha
Quyển sách, cây bút mới là của anh.”

  Tôi lẩm nhẩm đọc theo đến thuộc làu, nhưng lúc đó không khỏi thắc mắc, cái “Quả cau nho nhỏ. Cái vỏ vân vân” thì có mắc mớ chi tới “Quyển sách, cây bút”?
Hồi nhỏ, trí óc thô thiển, không hiểu được cái thâm thúy của bài thơ. Không hiểu, nhưng vì mê thơ, mê chữ, tôi cứ đọc bừa, bất kể thượng vàng hạ cám, thơ hay thơ dở.
Đọc hết những bài thơ trong sách giáo khoa, tôi quay ra mê đọc những truyện thơ.
Thời đó, các cơ sở kinh doanh tư nhân sản xuất các loại tập giấy học trò 50,100 trang, bìa trước in hình ba cô gái Bắc Trung Nam, bìa sau in nhiều truyện tranh thơ. Từ những truyện cổ tích lịch sử, truyện dân gian như Truyện Trầu Cau, Sự Tích Quả Dưa Hấu, truyện Bánh Dày Bánh Chưng, Sơn Tinh Thủy Tinh,... cho tới những truyện hoang đường, ma quái như truyện Mục Kiền Liên, truyện Thanh xà Bạch xà. Mỗi truyện dài ngắn đều được tác giả tóm gọn trong 16 câu thơ và 8 ô tranh minh họa.

“-Bạch Xà cùng với Thanh Xà
Hai con tinh rắn tu đà lâu năm
-Hóa thành cô gái đẹp xinh
Gặp nhau ở một tòa đình cổ xưa
-Hớn Văn lại bị rắn lừa
Mắc oan trộm bạc bị vô huyện đường
-Mồng Năm thấy rắn giữa giường
Hớn Văn kinh khiếp ngất luôn bên màn
-Gặp sư Pháp Hải tỏ tường
Hớn Văn mới biết hai con rắn tà
-Rồng vàng còn bị sư thâu
Hai con rắn bị giam vào tháp kia...”

“Chuyện nhảm.”
“Thơ dở như quỷ.”
Lần nào cũng vậy, chưa đợi tôi đọc hết bài, thể nào mẹ cũng phán những câu đại loại.
Ờ, mà dở thật, ngay cả một đứa con nít như tôi cũng nhận ra điều này. Nó dở, vì những câu thơ thế này thì lúc đó tôi cũng có thể... viết được.
Lật đi lật lại, bìa trước bìa sau cũng không thấy đề tên tác giả.
Thật kỳ lạ! Ai làm thơ mà không ký tên thế này?

   Một vài năm sau, khi chuyển qua trường công lập, thầy cô cấm không được dùng những loại tập có in truyện ở bìa sau. Lý do: trẻ con không được đọc những truyện nhảm. Lệnh cấm đã muộn. Con nít trong xóm, đứa nào cũng thuộc.
Mãi về sau, hình ảnh hai con rắn xoắn khúc vẫn ngáng trong lòng tôi nhiều mối hoài nghi. Không lẽ người ta không làm được cho con nít một bài thơ khá hơn, không tìm một câu truyện nào hay hơn?
Bài thơ dở đi theo tôi qua những chặng đường dài. Thỉnh thoảng tôi cứ nghĩ vể nó như một lẽ bất toàn, như một vệt lem quẹt ngang trên tờ giấy trắng.
So sánh với thơ Con Cóc, bài Con Cóc vẫn hay hơn. Hay ở chỗ thơ Con Cóc mang được tính đặc trưng cho một bài thơ dở nhất.
Dở nhưng không nhảm.

"Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra
Con cóc nhảy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhảy đi.”

Chuyện cóc ngồi, cóc nhảy là chuyện bình thường, không đáng nói.
Nhưng Thanh xà Bạch xà thì khác, đó là một câu chuyện nhảm. Mặc dù nó là một trong tứ truyện truyền thuyết dân gian phổ biến nhất của Trung Quốc. Không một người Tàu nào không biết truyện này.Thanh xà, Bạch xà là hai con rắn tu luyện ngàn năm nên có phép thuật biến hóa thành người. Một hôm, tình cờ gặp Hớn Văn trong một ngôi miếu cổ, Bạch xà đem lòng yêu thương. Rồi họ kết duyên và chung sống. Vì mưu sinh, Bạch xà đành phải trộm bạc cho chồng. Hớn Văn vô tình tiêu bạc trộm nên bị kiện ra công đường. Có lần nhân tiệc Tân Xuân, Bạch xà Thanh xà quá chén, bị hiện nguyên hình là hai con rắn lớn. Hớn Văn quá đỗi kinh sợ, nhờ sư Pháp Hải bắt nhốt rắn vào tháp Lôi Phong. Sau mười năm kinh kệ sám hối, cuối cùng Hớn Văn và Bạch xà mới được tái hợp, đoàn viên.
Hồi nhỏ, coi truyện này, đầu óc trẻ con không khỏi thắc mắc. Đây là một câu truyện tình giữa rắn và người. Mà điều kinh ngạc là người yêu rắn nhiều hơn rắn yêu người. Hớn Văn, sau khi thấy vợ bị nhốt, đã thành tâm sám hối, kinh kệ mười năm để được tái hợp với người yêu. Trong truyện tình, người là nạn nhân, là kẻ bị rắn lừa, thế mà người phải ăn năn sám hối, đọc kinh liên tục để chuộc tội cho rắn suốt mười năm?
Rắn yêu người hay người yêu rắn, có phải là một thứ tội lỗi? Và thứ tội lỗi này có thể được giảm khinh nếu chịu khó đọc kinh kệ nhiều lần? Kiểu hình phạt này làm lũ con nít liên tưởng đến mấy vụ chép phạt trong lớp. Có trời mới biết chép bao nhiêu lần thì đủ để trời cao thấy được lòng thành sám hối?
Sau này, đọc thêm nhiều truyện Tàu, tôi không còn ngạc nhiên như trước. Thường, những nhân vật anh hùng dân tộc của họ như Nhạc Phi, Tiết Đinh Quý, Tiết Đinh San, Phàn Lê Huê,,... trong dã sử đều có tướng tinh xuất thân từ những “động vật hoang dã” như ngựa, chim, hổ, báo. Một sử gia Anh nhận xét, người Tàu viết lịch sử giống như người ta viết cổ tích.

Rồi thời gian trôi như mây.
Bọn trẻ con lớn lên
Bài thơ dở chìm dần vào quên lãng.
 
Tôi vốn mê thơ từ hồi nhỏ. Thế mà giờ lại khổ vì.. thơ. Đúng ra là khổ vì những người làm thơ, nhất là những nhà thơ quen quen, những tác giả người nhà. Bà chị họ mới về hưu năm ngoái, năm nay đã trình làng một tập thơ. Anh bạn thời trung học xa xưa cũng vừa khoe mới được bầu vào chức chủ tịch Hội Thơ Phường. Nghe nói gần đây, thơ đã được “triển khai” xuống từng cấp quận huyện, phường xã. Giải thơ cho người khuyết tật, giải cho trẻ mồ côi,...
Thơ làm tôi... chóng mặt.
Chưa hết.
Nơi tôi ở, thành phố của Cuốn Theo Chiều Gió1 Hình ảnh của Margaret Mitchel như ẩn hiện trong từng chiếc lá vàng rơi. Người Việt ở đây yêu thơ hơn người Việt ở nơi khác. Người Việt ở đây làm thơ nhiều hơn người Việt ở những nơi khác. Ừ, thì cũng tốt. Làm thơ hay hơn làm thinh. Khi làm thơ, tâm người ta hướng thiện.
Gặp thơ hay, tôi mừng như bắt được vàng. Cả tháng trong đầu lảng vảng những câu thơ không rứt được. Bước đi như hẫng trong mây. Mừng không tả được.
Nhưng gặp thơ dở thì sao? Tự nhiên, miệng mồm tôi bị... nghẹn.
Nói dối thì mất chính mình. Nói thật thì mất bạn.
Vì một bài thơ, tôi có nên mất bạn?
Khen một bài thơ dở khó như người ta tập luyện võ côngô, một tay vẽ hình tròn, một tay vẽ hình vuông2. Đạt được mức ấy họa chăng chỉ có hàng cao thủ.
Tôi không phải là cao thủ.Tôi cũng không thể khi “Tim nghĩ một đàng, lưỡi nói một nẻo.”3
Tôi lừa tôi, tội một. Tôi lừa độc giả, tội nhân trăm, nhân ngàn.
Khen một bài thơ dở khó như đi chứng nhận một cục đá là vàng. Là biến bạn thành kẻ xài vàng giả, là đẩy bạn sống trong thế giới lơ mơ, ảo tưởng.
Có nên không?
Thế nào là một bài thơ hay? Sẽ khó mà định nghĩa đây.
Nhưng một bài thơ dở thì ai cũng thấy. Vậy vì cớ gì tác giả lại không?
Tôi chợt nhớ ra bài Thanh xà Bạch xà thuở nhỏ. Cái hay của nó chính là chỗ tác giả không ký tên.
Viết một lời bạt, nhận xét một bài thơ, giới thiệu một cuốn sách sẽ không có giá trị nếu không nói lên sự thật.
Nói thật về một bài thơ thôi còn khó như vậy thì người Việt chúng ta sao dám phê bình những chuyện to tát hơn. Một chính sách, một đường lối hay một chiến lược sai lầm của Đảng. Chúng ta đã không dám nói thật với một người bạn thì làm sao dám phê bình, chỉ trích thẳng thừng với các cán bộ cao cấp, những lãnh đạo quốc gia?
Gần một thế kỷ trôi qua chúng ta sống trong lừa dối.
Cả một dân tộc “giả vờ như không giả vờ gì cả”.4
Người Việt chúng ta phải nên học cách nói thật.
Bắt đầu từ một bài thơ.n

July, 12, 2013

Ntta
 
 

Chú thích:

1/Thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ.

2/Một tay vẽ hình tròn, một tay vẽ hình vuông là cách tập sơ đẳng khi mới bắt đầu tập môn võ công Song Thủ Hổ Bác. Môn võ này do một nhân vật tên Châu Bá Thông sáng chế bằng cách phân thân, dùng tay phải đánh tay trái để giải khuây trong tác phẩm nổi tiếng Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung.

3/ Đây là ý tưởng của nhà thơ Václav Havel cha đẻ của phong trào Cách mạng Nhung của Tiệp Khắc. Nguyên văn “Khi trái tim nghĩ thì lưỡi nói.” Trích trong cuốn tiều luận “Quyền Lực Từ Không Quyền Lực”. Nhà thơ Václav Havel kêu gọi phong trào người Tiệp đối diện với Sự Thật, nói lên những suy nghĩ Thật, từ bỏ những khẩu hiệu dối trá, hệ thống dối trá của CNCS trên nước Tiệp. Năm 1989, Cách Mạng Nhung đã lật đổ được chế độ Cộng Sản mà không tốn một giọt máu.

4/Đây là câu trích trong chương 4, của tiểu luận nói trên.

 

 

 

Friday, July 12, 2013

THƠ ĐINH CƯỜNG


Chiều đến nghĩa trang đường braddock     

 

                                                               Bóng. Đinh Cường 

Chiều đến viếng thắp cây hương
vái Phật vái trước ảnh người bạn vừa mất
Fairfax Memorials Funeral Home
nắp áo quan đậy, những ánh nến
những tràng hoa, những ánh mắt tiếc thương
nhìn trên màn hình chiếu lại
bao nhiêu ảnh của một thời Lê Thiệp
mới đó mà trưa mốt sẽ thành tro than
khi xong lễ hỏa táng, và tro sẽ rải về đâu

những bước chân trên đường mòn đi bộ về
tối muộn, đom đóm chớp sáng chớp sáng
cả bầu trời một màu mây như sắp có cơn dông
cây bông mùa hè bắt đầu nở trắng muốt

ngồi nghỉ trên bậc thềm, phong linh đứng im
chỉ nghe mấy tiếng quạ kêu rồi bay đi
qua rồi một đời người, chớp sáng có rồi không
mấy hôm nay vẽ hoài chưa xong bức tranh …

Virginia, July 9, 2013


Trả tôi về cánh rừng 

                            gởi NXH 
Trả tôi về cánh rừng
im nghe từng nhịp thở
trả tôi về lặng yên
chiều đi trong nắng thắm

nắng nóng mấy ngày nay
tin bạn bè ngã bệnh
tin bạn bè ra đi
làm chùng đi nét cọ

vẽ hoài màu xám tro
vẽ hoài nét xước rách
miếng bố tải quấn quanh
gốc cây tùng mua về

cửa tùng đôi cánh gài
nhớ truyện Thầy Nhất Hạnh
chàng dũng sĩ về đâu
hay chàng trở lên động

tôi đem miếng bố tải
dán vào sơn vẽ tranh
lại ra nhà thờ Dran
quạnh hiu mờ rêu phong…

trả tôi về cánh rừng
hoa cao su nở trắng
thời ấu thơ mưa nắng
muôn ngàn lá xanh che

trả tôi về Lạc Lâm
thời giang hồ mộng mị
trả tôi về chiều nay
thì thầm lời nguyện nhỏ

Nam Mô Đại Từ Đại Bi
Quan Thế Âm Bồ Tát
Cứu Khổ Cứu Nạn…
thấy lòng mình thanh thản.

Virginia, July 6 . 2013
(Nguồn: Sáng Tao)

ĐC

TẢN MẠN BÊN TÁCH CÀ PHÊ


Nhành oải hương 

Nguyễn Xuân Thiệp
 
 
Trong một bài Tản Mạn, Nguyễn tôi có nhắc tới nhành oải hương khi viết về mùi hương cỏ.
J’ai cueilli ce brin de bruyère (Apollinaire) Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Mới đêm qua, trong ánh trăng thượng tuần, cô gái ấy đến bên bụi hoa oải hương (lavender) trước nhà ngắt một nhánh nhỏ nói với người yêu ở xa: mùi oải hương thơm ngát dưới ánh trăng, em tặng anh chùm hoa này nhé…
Phải rồi
đêm. trong khu vườn của hoa oải hương
những ngọn đèn. thắp sáng lối đi
có ai vừa nhóm lên bếp lửa. hồng. cổ tích

    Và trong không khí cổ tích ấy, Nguyễn thấy mình cầm nhành hoa oải hương đi vào giấc mơ
anh sẽ cầm
nhành oải hương
đi vào giấc chiêm bao
em có nhớ
nhành oải hương
em đã hái cho anh
một đêm. trăng thượng huyền
bên hiên nhà
   Thật ra đây không phải là lần đầu mình nói tới hoa oải hương. Còn nhớ một bài thơ của Nguyễn có tựa đề Biển Laguna. nhánh hoa Lavender vẫn trôi trên bờ sóng. Và trong một bài khác,
hình như giờ này những bụi hoa lavender. trước ngôi nhà thờ cổ. vẫn còn thức
cây bàng vương phủ còn thức
anh ngồi đây tự hỏi
cây đàn cello trong tay người nghệ sĩ của tranh modigliani còn thức không
những dòng chữ trong thơ anh còn thức không
mà anh nghe vọng tiếng khóc than
    Hoa oải hương - lavender là loại cây bụi có mùi thơm nồng, xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải. Như một loài dược thảo, hoa oải hương được dùng từ 2,500 năm nay. Ở những thời xa xưa ấy, người Ai Cập, người Phoenicians, người Ả Rập dùng oải hương để ướp xác và làm nước hoa cho đàn bà. Tương truyền nàng Cleopatra đã dùng loại nước hoa này để quyến dụ Julius Caesar và  Mark Antony. Người La Mã thì dùng dầu oải hương để tắm, nấu ăn và ướp thơm nhà cửa, quần áo. Suốt thời Trung Cổ, nó được xem như là thứ thảo dược của tình yêu (herb of love). Do mùi hương thơm sạch và tính chất đuổi côn trùng, nó là loại thảo mộc được ứng dụng rộng rãi. Nó từng được dùng để sát trùng vết thương trong thời chiến. Oải hương cũng là một loại cây phổ biến trong vườn cảnh. Oải hương còn được gói trong những túi thơm để chống những con nhậy (cắn quần áo) và tạo nên mùi thơm cho căn phòng, quần áo. Hàng thế kỷ nay, oải hương đã được dùng như một loại thảo mộc kẹp trong nhà bếp. Trà làm từ những bông hoa có tác dụng làm dịu cơn nhức đầu. Nước rửa mặt từ hoa oải hương kích thích tế bào phát triển và giúp chống mụn.
   Những bó hoa oải hương cũng được trao cho các cặp vợ chồng mới cưới để mang lại may mắn. Và rắc tung những bông oải hương khô trong nhà được cho là mang lại sự hoà thuận, bình yên.
    Đến mùa hoa, ong bướm lại bay đến rập rờn. Hoa oải hương thơm nức, là một trong những loài hoa nổi tiếng dùng để chiết xuất tinh dầu làm nước hoa.
   Oải hương là một trong những loài thảo mộc thiêng liêng giữa mùa hè. Người ta nói rằng Đức Mẹ Đồng Trinh đã trải những chiếc tã quấn khăn cho em bé mới sinh của mình trên những cây oải hương nên tã và khăn có mùi thơm ngát. Cũng từ đó người ta tin rằng cây oải hương có tính linh thiêng. Nó được dùng để trừ điều dữ điều xấu. Trong nhiều gia đình Công giáo, người ta treo một cái thánh giá bằng cây oải hương để được an lành. Oải hương cũng thường được nhắc đến trong Thánh Kinh. Với cái tên spikenard sách Luke kể rằng: "Rồi bà Mary dùng dầu oải hương (spikenard), rất quý và mắc tiền, để rửa chân cho Chúa và lấy tóc mình lau, không gian tràn ngập mùi hương hoa dại. Người ta cũng nói cây oải hương được Adam và Eva lấy từ vườn địa đàng.
    Có lẽ cây oải hương thoạt đầu do những thương nhân Ả Rập đưa từ Hy Lạp qua Âu Châu. Khoảng năm 600 trước Công Nguyên nó tới Pháp và được yêu mê do đó ngày nay có rất nhiều oải hương tràn ngập đất Pháp nhất là miền Provence ở về phía Nam có rất nhiều ruộng oải hương. M. ơi, có phải trong một lần sang Pháp thăm anh và em trai, em đã từng đứng ngẩn ngơ như bị hút hồn trước những cánh đồng oải hương ở Toulouse và miền Provence. Và khi về lại em đã ôm theo cả một bó lavender lên máy bay khiến những người đồng hành cũng ngẩn ngơ theo em. Ôi phải chi anh là họa sĩ anh sẽ vẽ lại bức tranh ấy, chắc chắn nó sẽ tuyệt vời biết bao. Trở lại với “chính truyện”, tại các nước Tây Ban Nha, Ý và Anh cũng trồng rất nhiều oải hương. Hoa oải hương được đưa vào Mỹ cùng thời với những Pilgrims đến từ Anh. Riêng ở Âu châu, suốt thế kỷ 13 và 14, oải hương được trồng trong vườn của các tu viện để dùng chữa bệnh.
   Tới đây, Nguyễn xin kể một chuyện tình trong phim của Trung Hoa có tựa đề Hoa Oải Hương (Huân Y Thảo), một chuyện tình buồn cũng như tình mình vậy: Từ khi được sinh ra, Dĩ Huân và chị gái của cô, Dĩ Thần, đã bị mắc bệnh tim, căn bệnh khiến họ không thể chạy hoặc tham gia các hoạt động giống những đứa trẻ bình thường khác. Bởi vì căn bệnh này, Dĩ Huân đã bị các bạn cùng lớp xa lánh. Dĩ Huân chỉ có một người bạn duy nhất, đó là Quỷ Tinh Xuyên. Khi Tinh Xuyên và gia đình chuyển đến sống ở Mỹ, Tinh Xuyên đã tặng cô bé một chiếc lọ nhỏ đựng hoa oải hương, coi nó như một vật kỷ niệm rằng cậu sẽ không bao giờ quên cô bé. Tinh Xuyên hứa với Dĩ Huân rằng cậu sẽ quay trở lại gặp Dĩ Huân vào ngày sinh nhật tuổi 20 của cô.
   Nhiều năm sau, Tinh Xuyên trở về Đài Loan, nhưng lần này trong danh phận là một ca sĩ nổi tiếng, Leo. Leo cũng không quên lời ước hẹn của mình với Dĩ Huân. Sau một số hiểu lầm, cả hai đã gặp lại nhau. Nhưng với sự hiện diện của Tiểu Đồng, cậu chủ nơi Dĩ Huân làm việc, người vẫn yêu thầm cô bấy lâu, và bạn gái của Leo, Maggie, rồi lại thêm căn bệnh hiểm nghèo của Dĩ Huân, liệu họ có thể tìm lại được tình yêu và sống bên nhau mãi mãi được không... Câu trả lời cũng mong manh như nhành oải hương của mình vậy.
   Vâng, xin trở lại với nhành oải hương em đã hái tặng anh:
anh và nhành oải hương
sẽ đi vào giấc mơ
gặp những chú vịt nhỏ lông vàng
cô bé đi dạo chơi trên bờ biển. có bóng những cây dù. và đàn hải âu bay lượn
thêm những cánh diều
anh cũng gặp. chú bé. con ong nhỏ. và những chiếc lá vàng
như trong thơ emily dickinson
trong giấc mơ. màu tím hoa oải hương ấy
sẽ không có chia ly
và cái chết
không có lệ hoen. trong chiều
em ơi

June 2013
NXT

 


 

Thursday, July 11, 2013

THƠ HOÀNG XUÂN SƠN


Đọc lê thiệp, tháng mười. mười một 


                                                 Chân dung Lê Thiệp. Đinh Cường vẽ

                                          [dù biết bạn xem nặng nhẹ cuộc đời chả là cái đếch gì
                                          vậy mà bạn lững thững ra đi thật rồi bạn đi rồi
                                          gặp gỡ họp mặt bây giờ đếch còn vui][*]  

lững thững lững thững giữa đời
chậm rãi. cứ thế mà vui
ồ! không có gì gấp gáp
đứng, đi. cũng giấc ngủ vùi
chiếc cầu sương tan
tạ mềm vai đá
vịn cuộc đời
lững thững

bình minh thơm
cỏ và mắt
và tóc phù vân
dìu dịu áng chiều

[những chai lọ trong căn nhà bỏ ngỏ nguyễn huỳnh
cà phê đắng bao thầu câu lạc bộ
cứ báo bổ cho đời linh thiêng
có phải đêm qua con ngựa đề trúng số
đếm bằng hữu ra riêng] 
kẽm gai mù mắt
đạn pháo rền bịt tai
kiệm lời
lững thững
lững thững trường sơn
lần về thạch hãn
có một dòng sông
dụi đầu hương núi
sàigòn mồ hôi nồng
lững thững đầu trưa
bước chào xế bóng

nghe bông mười giờ
lung linh lung linh
sóng 

Virginia, 15 oct. 2011
(Nguồn: Tiền Vệ)
_________________________
[*]Nhà văn nhà báo Lê Thiệp từ giã cõi đời ngày 5 tháng 7/2013 (theo tin Đặng Hoà Bình).