Saturday, March 28, 2026

THÁNG BA. CHIM BAY VỀ NHIỀU

nguyễnxuânthiệp
 
 
 Chim én ở nhà thờ Mission
 
Tháng Ba có chút nắng ấm chim bay về nhiều
 
Bài này được viết từ câu thơ trên của Đinh Cường. Ôi, bạn ra đi mới đó mà đã 10 năm. Mình viết bài này cũng là để tưởng niệm bạn đây
 
 Bây giờ là tháng Ba. Buổi sáng buổi chiều nơi thành phố này chim bay về thành đàn. Chợt nhớ tới Phạm Công Thiện ra đi cũng vào độ tháng Ba. Phạm Công Thiện có hai câu thơ về chim mình cũng rất thích
 
Ồ, chưa bao giờ tôi thương những con chim như chiều nay.
Tôi muốn xây lên một nghĩa địa chim giữa thành phố…
                      (Phạm Công Thiện – Mặt trời không bao giờ có thực)
 
Đúng là mơ mộng của thi sĩ -thật ngây thơ và dễ thương. Những cánh chim của Đinh Cường cũng như Phạm Công Thiện gợi nhớ tới những con hải âu ngày nào đã gặp ở bãi biển Destin xanh màu ngọc thạch. Ngoài ra còn những cánh hải âu trên hồ nước gần bên nhà Nguyễn Xuân Phước ở Irving, Texas -những cánh chim hải âu thật đẹp mà Nguyễn cùng hiền nội đã cùng đứng ngắm. Giờ đây, nắng Tháng Ba rạng rỡ mặt hồ và những cánh hải âu vẫn bay lượn trên sóng nước nhưng hiền nội thì không còn nữa. Trong chuyến đi Cali hồi Tháng Tư năm 2012, cùng với Nguyễn Đình Toàn và Lưu Na dạo chơi ở Huntington Beach, có dịp trò chuyện với một chú hải âu, Nguyễn đã hỏi thăm chú dọc đường bay có bao giờ gặp thấy bóng người trăm năm của Nguyễn không, xin làm ơn chỉ đường cho mình tìm tới.
 
Đúng là vớ vẩn, nhưng lúc đó lòng mình xúc động thành thật. Rồi theo một liên tưởng kiểu “vượn chuyền cành”, chợt nhớ Tháng Ba năm 1975 – ôi, vậy mà đã ngoài 50 năm rồi đó – mình ra Nha Trang tìm mẹ tìm em di tản từ Pleiku xuống. Cũng những con hải âu bay dưới trời: Hải âu bay xa về đâu / thùy dương dậy. chiều tà. hung hãn… Rồi những cánh vịt trời bên bờ nước ở gần nhà lúc chiều xuống cũng khiến lòng này thương tưởng đến những hình bóng xưa.
 
Nhưng thôi. Ta trở lại với những cánh chim của buổi giao mùa. Hồi mới sang Mỹ định cư ở Oklahoma, Nguyễn đã có dịp thấy rất nhiều chim, chúng mang cho mình bao hy vọng mới.
 
tháng tư
tôi về lại oklahoma
ngôi nhà. trong rừng parkwoods…
sáng nghe chim hót trong cây
chim tía. chim vàng. chim hồ biếc
chim tháng tư. về theo mây
tôi theo em. về giấc mộng. của lá
hong khô nhánh buồn xưa
tôi cười. với mọi người. hoen lệ
chào buổi sáng. chào hoàng hôn. chào mái
               trăng thượng huyền
cuối một chặng đường. ta gặp lại
một niềm vui. một hy vọng…
 
Bây giờ là Tháng Ba. Mùa này những con chim én có còn bay trên nóc mái nhà thờ Mission của vùng cận duyên San Juan Capistrano như hồi mình mới đến Mỹ? Câu chuyện được kể như sau: Ở tu viện Mission có một hiện tượng được thế giới biết đến là hàng năm vào khoảng cuối tuần lễ thứ ba của Tháng Ba, ngày Mùa Xuân bắt đầu ở Bắc Bán Cầu là hàng ngàn chim én trốn Mùa Đông từ Goya, Argentina (Á Căn Đình) cách đấy hơn 6,000 miles bay về thánh đường. Loài chim thiên di này có tên là Cliff Swallows (Petrochelidon pyrrhonota), chúng làm tổ bằng loại bùn màu xám trên tường ngay dưới mái nhà thờ bị sụp đổ. “Đất lành chim đậu”, tu viện nằm gần hai con sông nên có nhiều côn trùng làm thức ăn cho chim quanh năm và làm tổ dưới mái giáo đường thì rất kín đáo và an toàn. Linh Mục O’Sullivan theo dõi sinh hoạt của loài chim và ghi nhật ký từ Mùa Xuân cho đến Thu suốt hai thập niên ông ở đây.
 
Và ngày 13 Tháng Ba năm 1939 để loan tin chim én đã trở về, chương trình phát thanh đã trực tiếp truyền thanh từ sân nhà thờ bài nhạc “When the Swallows Come Back to Capistrano” của Leon René đã ngẫu hứng sáng tác. Bài hát đứng đầu nhiều tuần trên làn sóng phát thanh thời ấy. Ngày nay trong tu viện có gian phòng lưu giữ bản chụp bản gốc nhạc phẩm trên, cây đàn dương cầm ông dùng để sáng tác và một số đồ gỗ như bàn ghế do gia đình ông René hiến tặng. Hàng năm chính quyền thành phố San Juan Capistrano bảo trợ 2 tuần lễ hội “Fiesta de las Golondrinas” được tổ chức tại tu viện San Juan Capistrano vào khoảng 19 Tháng Ba (Lễ Thánh Joseph) để đón chim trở về và 23 Tháng Mười (Lễ Thánh John) để tiễn chim bay về Nam. 
 
Bây giờ thì Nguyễn mời người bạn nhỏ của Nguyễn hãy một lần ghé lại thăm giáo đường xưa San Juan Capistrano để thấy lòng mình lắng đọng, nghe tiếng thời gian chừng như trở lại trên từng mái ngói, tường vôi. Và bạn nhỏ hãy cầu xin những điều mình ước nguyện với tất cả niềm tin và lòng thành. Và hãy lặng nghe dư âm vang vọng đâu đây của ca khúc “When the Swallows Come Back to Capistrano” của Leon René:
 
Hôm xưa
khi đàn chim én lên đường
bay qua biển xa
em thì thầm bên tai tôi
lời tạm biệt
và hứa
sẽ về lại Capistrano
khi đàn chim én trở về…
 
Nhưng rồi, buồn thay, kể từ năm 2009 chim én đã không trở về. Một bài báo đăng trên tờ Los Angeles Times ra ngày 22 tháng 3. 2009 ghi nhận như sau: Trong hình, Mike Gastelum đang rung chuông ở nhà thờ Mission của thành phố San Juan Capistrano. Chuông rung suốt tuần lễ mà không thấy những con chim én huyền thoại ngày nào trở về
Chim én đã không về lại nóc nhà thờ Mission. Buồn quá, phải không bạn nhỏ? Không sao, Tim sẽ kể cho bạn nhỏ nghe một nơi nữa cũng có nhiều chim én. Đó là Đà Lạt. Những năm trẻ tuổi làm việc ở Đài phát thanh Nguyễn cũng đã được nhiều lần chuyện trò với chim én. Mỗi sáng mỗi chiều chúng đều bay lượn dưới mái lầu Hotel du Parc, chúng nhiều cho tới nỗi trẻ con có thể dùng cần câu bằng tre quơ bắt. Và em, mỗi sáng mỗi chiều đứng bên cửa sổ nhìn chim én bay, em có thương cho tuổi mình và những ngày tháng hững hờ trôi đi. Riêng anh cho tới bây giờ vẫn thấy như ngày nào dù đời đã qua biết mấy nhịp cầu chênh vênh:
Em và bầy chim én
vẫn bay trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê
 
Đinh Cường ơi, có còn về lại phố có Nhà Thờ Con Gà để nhìn chim én lượn bay…
NXT 

NGŨ NGÔN THI

nguyễnxuânthiệp
 
Tường vi mấy độ
 
ngũ ngôn tường vi
 
những ngọn cây. ven rừng
đợi bình minh. thức giấc
bầy chim xa dừng chân
báo tin vui trở lại
 
hường ơi. đã sớm mai
 
em hái bông tường vi
trong vườn cây đợi nắng
thoảng hương trà vũ di
từ một câu thơ cổ
 
những câu thơ anh viết
dài theo đường chim bay
cũng là bông tường vi
sáng nào em đã hái
 
sáng nào em đã hái
bông tường vi. màu xanh
có ửng đường vân. đỏ
có tím. pha lời chim
 
xanh là xanh chờ đợi
đỏ là vết dao sâu
tím với sầu nuối tiếc
sao thời gian qua mau
 
sao thời gian không ở
em hái bông tường vi
tưởng rằng sẽ cất giữ
thơ anh và xuân thì
 
tưởng rằng sẽ cất giữ
tường vi đâu. xuân thì...
 
 
nhặt trái thông khô
 
Anh trở lại đồi cao
nhặt trái thông. trong nắng
tưởng bài thơ buổi nào
bỗng. đầu cành. chín. rụng
 
trái thông. trái thông khô
bằn bặt ngọn lửa nhỏ
của một ngày. hồng trăng
 
đã về. dốc sương mù
đã về. cây hoàng hôn
tiếng gà trưa vẫn gáy
bông phù dung. trong vườn
 
em. và bầy chim én
vẫn bay. trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê
 
anh đi trên mái nhà
anh đi. lá thông khô
đã đầy trong màu nắng
 
anh chết tự bao giờ
mà hồn bay vàng phố
mà về theo gió đưa
dấu chân in lá cỏ
của những mùa hè qua
anh chết. hồn dã quỳ
chắc bây giờ thấy nhớ
 
và như là bao giờ
anh nhặt trái thông khô
bàn tay khum ngọn lửa
tiếng gà. tiếng gà trưa
thế kỷ tàn. tàn. rụng
anh về. tiếng gà trưa
 
 
phố cổ
 
Những con đường lát gạch
người. như cây. chụm đầu
quán cà phê. và gió
cô hàng tranh. tóc nâu
 
em đưa anh đến đây
chiều nghiêng. chiều. phố cổ
những bước chân reo vui
nắng. trên bờ tường lở
 
a. cuộc đời rất điên
người xưa trên phố cổ
trôi. như mây. như mây
 
dòng sông. dòng sông. trôi
cánh buồm dong ra biển
dưới gốc thông. ta ngồi
lặng yên nghe. sóng gọi
 
kìa. bóng ngày. đang qua
phố lên đèn. góc tối
mắt. là hoa pensée
anh hôn em. rất vội
 
starbucks. la madeleine
hay tùng xưa. chiều tím
ly café latté
môi. miệng. tình. ngọt lịm
thời gian. ơi. thời gian
phố còn đây. phố cổ
còn đà lạt. sài gòn
và washington. nỗi nhớ
nhưng ta rồi đi qua
có bao giờ trở lại
như mây trên phố kia
tan thành mưa. ướt xối
xuống mái tình. hư vô
tháng 8. 2005
NXT

  

Friday, March 27, 2026

THƠ HAIKU. BASHO

Hoa Văn
 
Haiku. Basho
   

               Đêm mùa hạ rung động vì tiếng vỗ của một bàn tay,

              cũng như thiên nhiên tự nghìn xưa cất tiếng vì cái nhảy 

             của một con ếch. Và Basho đã “nghe” tiếng vang của nước,

             tiếng vỗ của bàn tay mà giác ngộ được Thiền

     Bài haiku vỏn vẹn ba dòng thơ nhưng mở ra một không gian đầy thiền vị, nơi thời gian dường như ngừng lại để người đọc lắng nghe nhịp thở tinh tế nhất của thiên nhiên:
"Cỏ mờ sương
Nước tĩnh lặng
Ánh chiều tà"
    Bài thơ haiku của Basho mang đến một khoảnh khắc tinh khiết, nơi thiên nhiên và con người như tan vào nhau trong sự tĩnh lặng tuyệt đối. "Cỏ mở sương", "nước tĩnh lặng", "ánh chiều tà" - ba hình ảnh không lớn lao, kì vĩ nhưng lại gợi lên một bức tranh thiên nhiên với nhịp sống âm thầm, sâu lắng, nơi từng chuyển động nhỏ của tự nhiên cũng trở nên thiêng liêng. Ẩn sau lớp vỏ giản dị ấy là cảm quan triết lý đậm chất Thiền: mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong mối tương giao hài hòa, cái hữu hạn của đời người giao thoa với cái vô hạn của vũ trụ. Như thơ tượng trưng phương Tây từng nhận ra mối “tương giao” giữa âm thanh, màu sắc và mùi hương, thơ haiku cũng hé mở những kết nối thầm lặng giữa vạn vật. Thơ Basho gợi nhắc người đọc rằng cái đẹp không nằm ở sự riêng lẻ mà ở mối liên hệ hài hòa giữa các tồn tại. Khi đọc thơ, ta không chỉ ngắm cảnh mà còn được nhắc nhở về vị trí của mình trong dòng chảy vô tận của vũ trụ – một mắt xích khiêm nhường nhưng không thể thiếu.
HV

NHÀ ANH Ở

Huỳnh Liễu Ngạn
 
Ổi vườn nhà
 
nhà anh ở về phía đông thành phố
cuối mùa thu lá rụng kín đầy vườn
bầy kiến nhỏ trong lùm cây thỏ thẻ
những nỗi buồn khi đêm lạnh trăng buông
 
nhà anh ở có một cây ổi ngọt
gần hết năm trái trỉu nặng thấy thương
con sóc nhảy lên cao rồi nhảy xuống
chạy tung tăng khắp đám cỏ vô thường
 
buổi sáng sớm có cơn mưa bất chợt
như mưa phùn rơi nhẹ dưới hàng cây
trời lành lạnh làm vai em nghiêng xuống
nghiêng thật đầy từng giọt nhớ lên tay
 
nhà anh ở về phía đông thành phố
mấy chục năm hoa vẫn nở trên cành
mà con chim chiều chiều không về nữa
nên anh đành đứng ngó mãi trời xanh.
11.11.2025
HLN 

Thursday, March 26, 2026

PHAN NI TẤN GIỮA CHỢ ĐỜI

Lê Chiều Giang
 
 
Tranh Nghiêu Đề
 
Phan Ni Tấn
 
“…Một góc đen thui một góc đời 
Tôi nằm trong đó ngủ buồn chơi
Nửa đêm trời lạnh thân co quắp…”
Phan Ni Tấn
 
Nhóm chúng tôi có một nơi để Cafe không cần hò hẹn nhưng lúc nào ghé quán cũng đều gặp đúng nhiêu đó bạn bè, những khuôn mặt vừa thân mật, vừa méo mó, lại có đôi khi thất thần… Những gương mặt đã được nắng và gió vẽ ra để minh hoạ cho một đời sống trầm luân đầy nhọc nhằn, khốn khó sau biến cố năm 1975.
Tên quán Cafe đẹp và thơ mộng như Kim Oanh, cô chủ quán đã cùng gia đình bỏ hết trang trại cafe bát ngát ở Ban Mê Thuột, chạy về định cư tại khu Thị Nghè Sài Gòn. “Cafe Ban Mê"
Cafe Ban Mê. Nơi anh Nghiêu Đề và tôi gặp nhạc sĩ Phan Ni Tấn, người bạn thân của gia đình Kim Oanh từ những ngày anh còn ở cố quận. Phố Ban Mê.
Trông anh rất “ngầu" với cái chất gió bụi của đời sống lang bạt không cửa nhà “hộ khẩu”, cộng thêm cả một chút bất cần trong ánh nhìn lặng lẽ.
 
“...Đêm bến xe Xa Cảng Miền Tây
Trời hiu hiu mát nằm ngủ say
Sáng ra quờ quạng tìm mục kỉnh
Mắt còn đây, mục kỉnh đã bay…”
 
“...Nửa đêm nằm mộng thấy trời xanh
Trên thân tôi tàu chạy vòng quanh
Giật mình tỉnh giấc tai còn thoáng
Một tiếng còi tàu rúc lạnh tanh…”
[Ga xe lửa chợ Bùng Binh / Thơ PNiTấn]
 
Chúng ta có cả trăm bè bạn lưu lạc tha phương khắp nơi, không “hộ khẩu”. Nhưng chẳng phải ai cũng là Thi sĩ.
Thi sĩ Phan Ni Tấn có những đêm “Ngủ trên cành cây “, đã như một Thiền giả lang thang trong thiên hạ.
“...Làm sao ai biết có ngày này
Người ở thành phố ngủ trên cây
Nửa đêm xuân xiếc về ngang hỏi:
Hết chỗ rồi sao ông ngủ đây…”
[ Thơ PNiTấn ]
 
   Chúng tôi một nhóm mỗi tuần gặp nhau vài lần như thế, gặp nhưng không hề than van kể lể, dù ai cũng đang sống dở chết dở… Hớt hải chạy theo những chuyến xe buýt chạy như điên khắp Sài Gòn để bán vé xe buýt như chị Thuỵ Vũ hay chất trên chiếc xe đạp cũ kỹ một thùng gỗ nặng xà bông gội đầu đi bỏ mối khắp chợ như anh Nghiêu Đề…
Sống trong đói rách nhưng chúng tôi đành mừng rỡ, chúng tôi đành cười vui mỗi khi gặp lại bạn bè. Thơ nhạc như đã làm mờ đi những lo âu, và sợ hãi. Nói như anh Nguyễn Đình Toàn “Sau 1975, nếu không có một nhóm để ca hát rong chơi như chúng tôi, chắc là tất cả đã không ai còn sống sót…”
Và chúng tôi đã không ai thèm “chết”, dù đã có khi từng bị Phan Ni Tấn hăm dọa trong ca khúc “Gõ Quan Tài”, bản nhạc anh phổ từ thơ Đoàn Bằng Hữu.
Thật lạ, chỉ khi nhìn anh Phan Ni Tấn ôm đàn, nhắm đôi mắt mờ câm say sưa hát, tôi mới nhận ra chính anh. Tôi nhìn ra người Nhạc sĩ mang sức sống mạnh mẽ và vô cùng quyết liệt với đời.
“...Hai tấm ngắn
Bốn tấm dài
Tôi hì hục đóng
Quan tài cho tôi…”
 
Chúng tôi đã không ai muốn chết. Tôi nhớ sau khi nghe bản nhạc “Gõ Quan Tài” của anh, tất cả bạn bè đều ngồi im lặng lẽ. Chúng tôi cùng suy ngẫm, tưởng tượng ra cái “đẹp” trong nỗi chết. “Đẹp” nhưng đầy oan khiên đã bàng bạc khắp trong những lời thơ. Cái tài tình của Phan Ni Tấn là anh đã đàn ra đúng tiếng đinh được gõ xuống áo quan. Tiếng đinh chát chúa đóng xuống nhịp nhàng qua những giây đàn, nghe vừa bi thảm vừa rùng rợn nên chẳng thể nào chúng tôi quên.
Và kể từ đó, sau khi được nghe những bài thơ mới anh đọc, “Gõ quan tài" luôn là bản nhạc được yêu cầu anh hát lại nhiều lần.
 
Anh ôm đàn qua Làng Báo Chí, anh hát hò bên Cư Xá Thanh Đa…Người nhạc sĩ “vô sản chuyên chính”, không cửa không nhà nhưng đã cùng bạn bè gặp nhau khắp mọi nơi, mọi chốn.
Nhưng không phải chỉ toàn là rong chơi ca múa, anh còn phải kiếm sống bằng nhiều thứ nghề mà anh chưa làm bao giờ.
“...Vá ruột xe đạp tưởng dễ ăn
Bắt tay vào mới thấy khó khăn
Mười phút cậy mới ra lớp vỏ
Cô em hiền hậu cũng phải nhằn…”
 
“...Hộp thuốc lá bạn tôi đóng cho
Trong hộp đựng gói nhỏ, gói to
Một hôm hết thuốc tiền cũng tuốt
Vỗ bụng cười lấy nước làm no…”
[ Thơ PNiTấn ]
 
“Văn chương” hơn một chút anh ra bán sách cũ
“...Tôi bán sách cũ trong Chợ Sách
Một hôm “dị khách” ghé qua hàng
Lật trang thơ cũ oang oang đọc
“Nam quốc sơn hà…”
Khách cười vang.
[ PNiTấn với Bùi Giáng]
 
    Đám bạn bè chúng tôi vừa lam lũ chuyện áo cơm, vừa gượng cười khi gặp gỡ, lại vừa âm thầm tìm đường trốn thoát khỏi quê hương. Quê hương đã mất trắng của chúng tôi.
Bạn bè đã tản mát muôn phương, đã chẳng biết ai còn ai mất…
 
Năm 1992, anh Nghiêu Đề và tôi gặp lại anh Phan Ni Tấn ở Canada. Có thêm hiền thê, anh sống an nhiên và hạnh phúc.
Thơ và nhạc anh tiếp tục sáng tác rất nhiều, anh vẫn ôm đàn hát say sưa, vẫn chìm đắm đọc những bài thơ cũ, mới…
 
Trên đường bay về lại San Diego, tôi thấy như thiêu thiếu, như mất mát một điều gì. Phải chăng cái hình ảnh lang thang, mịt mù gió bụi của Phan Ni Tấn mới đúng là người mà chúng tôi phải bay rất xa để ghé thăm?
Tôi ước gặp lại anh ở quán Cafe Ban Mê của Kim Oanh cùng những người bạn cũ, ngồi nghe anh hăm dọa “Gõ quan tài". Tôi thèm nghe lại giọng đọc thơ khan khan, về đời sống rất thực mỗi ngày của anh khi còn lang bạt khắp Sài Gòn Chợ Lớn…
 
 
Khi nói điều này với anh Nghiêu Đề, tôi được nghe lời anh mắng mỏ: “Giữ hoài một quá khứ, không có nghĩa là muốn nhốt mãi ai vào chốn oan khiên.”
Nhưng đâu phải chỉ mình tôi hướng về những ngày tháng cũ? Anh Phan Ni Tấn cũng đã viết ra, đã nhớ lại.
“...Chút nước dột lại thấm vào nỗi nhớ
Mái hiên người che thân tôi nằm trọ
Một tiếng chim cũng xót dạ vô cùng
 
“...Nhớ đôi bạn nhà ở lưng chừng đồi
Những bậc cấp dẫn luồn qua mưa nắng
Theo chiều xuống chân bước lên nằng nặng
Ghé thăm rồi mai biết giạt về đâu…”
 
“...Gió lại thổi mùa đông qua nỗi nhớ
Gặp đôi bạn quê người chưa hết ngợ
Lại như núi rừng như đất nước trôi xa"
[ PNiTấn tặng Nghiêu Đề và Giang]
 
LÊ CHIỀU GIANG
 

CUỘC MỜI

Hoàng Xuân Sơn
 
Cải vàng bên sông
 
Hoàng núi
Lúi húi
                    [Vừa ]
Trưa
Hốt nhiên thấy mệ bán dưa vẫn ngồi
Cải vàng
Từ độ bông tươi
Bến sông rực gọi một trời riêng xanh
Mùa xuân
Ai ơi
Thuận thành
Chúc nhau mến đẹp
Khúc quành nhân gian
Mệ ngồi từ thuở khai nhan
Nếp hương khăn áo
Thơm
Tràn
Lục vong
 
17.3. 26
@hxs

  

THÁNG BA. Ở HOKKAIDO

nguyễnxuânthiệp
 
Hokkaido in Spring
 
tháng ba rồi đó em
tuyết đã tan trên vùng bắc hokkaido. nước nhật
hoa fuki nở lại
và những vị bụt tí hon. xuất hiện
mang cơm đến cho những người nghèo
mang lửa ấm cho những ngôi nhà lạnh lẽo
và đồ chơi cho trẻ nhỏ
cũng vậy
anh mong thơ anh
là chỗ an trú cho người
NXT
2020