Saturday, March 28, 2026

THÁNG BA. CHIM BAY VỀ NHIỀU

nguyễnxuânthiệp
 
 
 Chim én ở nhà thờ Mission
 
Tháng Ba có chút nắng ấm chim bay về nhiều
 
Bài này được viết từ câu thơ trên của Đinh Cường. Ôi, bạn ra đi mới đó mà đã 10 năm. Mình viết bài này cũng là để tưởng niệm bạn đây
 
 Bây giờ là tháng Ba. Buổi sáng buổi chiều nơi thành phố này chim bay về thành đàn. Chợt nhớ tới Phạm Công Thiện ra đi cũng vào độ tháng Ba. Phạm Công Thiện có hai câu thơ về chim mình cũng rất thích
 
Ồ, chưa bao giờ tôi thương những con chim như chiều nay.
Tôi muốn xây lên một nghĩa địa chim giữa thành phố…
                      (Phạm Công Thiện – Mặt trời không bao giờ có thực)
 
Đúng là mơ mộng của thi sĩ -thật ngây thơ và dễ thương. Những cánh chim của Đinh Cường cũng như Phạm Công Thiện gợi nhớ tới những con hải âu ngày nào đã gặp ở bãi biển Destin xanh màu ngọc thạch. Ngoài ra còn những cánh hải âu trên hồ nước gần bên nhà Nguyễn Xuân Phước ở Irving, Texas -những cánh chim hải âu thật đẹp mà Nguyễn cùng hiền nội đã cùng đứng ngắm. Giờ đây, nắng Tháng Ba rạng rỡ mặt hồ và những cánh hải âu vẫn bay lượn trên sóng nước nhưng hiền nội thì không còn nữa. Trong chuyến đi Cali hồi Tháng Tư năm 2012, cùng với Nguyễn Đình Toàn và Lưu Na dạo chơi ở Huntington Beach, có dịp trò chuyện với một chú hải âu, Nguyễn đã hỏi thăm chú dọc đường bay có bao giờ gặp thấy bóng người trăm năm của Nguyễn không, xin làm ơn chỉ đường cho mình tìm tới.
 
Đúng là vớ vẩn, nhưng lúc đó lòng mình xúc động thành thật. Rồi theo một liên tưởng kiểu “vượn chuyền cành”, chợt nhớ Tháng Ba năm 1975 – ôi, vậy mà đã ngoài 50 năm rồi đó – mình ra Nha Trang tìm mẹ tìm em di tản từ Pleiku xuống. Cũng những con hải âu bay dưới trời: Hải âu bay xa về đâu / thùy dương dậy. chiều tà. hung hãn… Rồi những cánh vịt trời bên bờ nước ở gần nhà lúc chiều xuống cũng khiến lòng này thương tưởng đến những hình bóng xưa.
 
Nhưng thôi. Ta trở lại với những cánh chim của buổi giao mùa. Hồi mới sang Mỹ định cư ở Oklahoma, Nguyễn đã có dịp thấy rất nhiều chim, chúng mang cho mình bao hy vọng mới.
 
tháng tư
tôi về lại oklahoma
ngôi nhà. trong rừng parkwoods…
sáng nghe chim hót trong cây
chim tía. chim vàng. chim hồ biếc
chim tháng tư. về theo mây
tôi theo em. về giấc mộng. của lá
hong khô nhánh buồn xưa
tôi cười. với mọi người. hoen lệ
chào buổi sáng. chào hoàng hôn. chào mái
               trăng thượng huyền
cuối một chặng đường. ta gặp lại
một niềm vui. một hy vọng…
 
Bây giờ là Tháng Ba. Mùa này những con chim én có còn bay trên nóc mái nhà thờ Mission của vùng cận duyên San Juan Capistrano như hồi mình mới đến Mỹ? Câu chuyện được kể như sau: Ở tu viện Mission có một hiện tượng được thế giới biết đến là hàng năm vào khoảng cuối tuần lễ thứ ba của Tháng Ba, ngày Mùa Xuân bắt đầu ở Bắc Bán Cầu là hàng ngàn chim én trốn Mùa Đông từ Goya, Argentina (Á Căn Đình) cách đấy hơn 6,000 miles bay về thánh đường. Loài chim thiên di này có tên là Cliff Swallows (Petrochelidon pyrrhonota), chúng làm tổ bằng loại bùn màu xám trên tường ngay dưới mái nhà thờ bị sụp đổ. “Đất lành chim đậu”, tu viện nằm gần hai con sông nên có nhiều côn trùng làm thức ăn cho chim quanh năm và làm tổ dưới mái giáo đường thì rất kín đáo và an toàn. Linh Mục O’Sullivan theo dõi sinh hoạt của loài chim và ghi nhật ký từ Mùa Xuân cho đến Thu suốt hai thập niên ông ở đây.
 
Và ngày 13 Tháng Ba năm 1939 để loan tin chim én đã trở về, chương trình phát thanh đã trực tiếp truyền thanh từ sân nhà thờ bài nhạc “When the Swallows Come Back to Capistrano” của Leon René đã ngẫu hứng sáng tác. Bài hát đứng đầu nhiều tuần trên làn sóng phát thanh thời ấy. Ngày nay trong tu viện có gian phòng lưu giữ bản chụp bản gốc nhạc phẩm trên, cây đàn dương cầm ông dùng để sáng tác và một số đồ gỗ như bàn ghế do gia đình ông René hiến tặng. Hàng năm chính quyền thành phố San Juan Capistrano bảo trợ 2 tuần lễ hội “Fiesta de las Golondrinas” được tổ chức tại tu viện San Juan Capistrano vào khoảng 19 Tháng Ba (Lễ Thánh Joseph) để đón chim trở về và 23 Tháng Mười (Lễ Thánh John) để tiễn chim bay về Nam. 
 
Bây giờ thì Nguyễn mời người bạn nhỏ của Nguyễn hãy một lần ghé lại thăm giáo đường xưa San Juan Capistrano để thấy lòng mình lắng đọng, nghe tiếng thời gian chừng như trở lại trên từng mái ngói, tường vôi. Và bạn nhỏ hãy cầu xin những điều mình ước nguyện với tất cả niềm tin và lòng thành. Và hãy lặng nghe dư âm vang vọng đâu đây của ca khúc “When the Swallows Come Back to Capistrano” của Leon René:
 
Hôm xưa
khi đàn chim én lên đường
bay qua biển xa
em thì thầm bên tai tôi
lời tạm biệt
và hứa
sẽ về lại Capistrano
khi đàn chim én trở về…
 
Nhưng rồi, buồn thay, kể từ năm 2009 chim én đã không trở về. Một bài báo đăng trên tờ Los Angeles Times ra ngày 22 tháng 3. 2009 ghi nhận như sau: Trong hình, Mike Gastelum đang rung chuông ở nhà thờ Mission của thành phố San Juan Capistrano. Chuông rung suốt tuần lễ mà không thấy những con chim én huyền thoại ngày nào trở về
Chim én đã không về lại nóc nhà thờ Mission. Buồn quá, phải không bạn nhỏ? Không sao, Tim sẽ kể cho bạn nhỏ nghe một nơi nữa cũng có nhiều chim én. Đó là Đà Lạt. Những năm trẻ tuổi làm việc ở Đài phát thanh Nguyễn cũng đã được nhiều lần chuyện trò với chim én. Mỗi sáng mỗi chiều chúng đều bay lượn dưới mái lầu Hotel du Parc, chúng nhiều cho tới nỗi trẻ con có thể dùng cần câu bằng tre quơ bắt. Và em, mỗi sáng mỗi chiều đứng bên cửa sổ nhìn chim én bay, em có thương cho tuổi mình và những ngày tháng hững hờ trôi đi. Riêng anh cho tới bây giờ vẫn thấy như ngày nào dù đời đã qua biết mấy nhịp cầu chênh vênh:
Em và bầy chim én
vẫn bay trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê
 
Đinh Cường ơi, có còn về lại phố có Nhà Thờ Con Gà để nhìn chim én lượn bay…
NXT 

NGŨ NGÔN THI

nguyễnxuânthiệp
 
Tường vi mấy độ
 
ngũ ngôn tường vi
 
những ngọn cây. ven rừng
đợi bình minh. thức giấc
bầy chim xa dừng chân
báo tin vui trở lại
 
hường ơi. đã sớm mai
 
em hái bông tường vi
trong vườn cây đợi nắng
thoảng hương trà vũ di
từ một câu thơ cổ
 
những câu thơ anh viết
dài theo đường chim bay
cũng là bông tường vi
sáng nào em đã hái
 
sáng nào em đã hái
bông tường vi. màu xanh
có ửng đường vân. đỏ
có tím. pha lời chim
 
xanh là xanh chờ đợi
đỏ là vết dao sâu
tím với sầu nuối tiếc
sao thời gian qua mau
 
sao thời gian không ở
em hái bông tường vi
tưởng rằng sẽ cất giữ
thơ anh và xuân thì
 
tưởng rằng sẽ cất giữ
tường vi đâu. xuân thì...
 
 
nhặt trái thông khô
 
Anh trở lại đồi cao
nhặt trái thông. trong nắng
tưởng bài thơ buổi nào
bỗng. đầu cành. chín. rụng
 
trái thông. trái thông khô
bằn bặt ngọn lửa nhỏ
của một ngày. hồng trăng
 
đã về. dốc sương mù
đã về. cây hoàng hôn
tiếng gà trưa vẫn gáy
bông phù dung. trong vườn
 
em. và bầy chim én
vẫn bay. trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê
 
anh đi trên mái nhà
anh đi. lá thông khô
đã đầy trong màu nắng
 
anh chết tự bao giờ
mà hồn bay vàng phố
mà về theo gió đưa
dấu chân in lá cỏ
của những mùa hè qua
anh chết. hồn dã quỳ
chắc bây giờ thấy nhớ
 
và như là bao giờ
anh nhặt trái thông khô
bàn tay khum ngọn lửa
tiếng gà. tiếng gà trưa
thế kỷ tàn. tàn. rụng
anh về. tiếng gà trưa
 
 
phố cổ
 
Những con đường lát gạch
người. như cây. chụm đầu
quán cà phê. và gió
cô hàng tranh. tóc nâu
 
em đưa anh đến đây
chiều nghiêng. chiều. phố cổ
những bước chân reo vui
nắng. trên bờ tường lở
 
a. cuộc đời rất điên
người xưa trên phố cổ
trôi. như mây. như mây
 
dòng sông. dòng sông. trôi
cánh buồm dong ra biển
dưới gốc thông. ta ngồi
lặng yên nghe. sóng gọi
 
kìa. bóng ngày. đang qua
phố lên đèn. góc tối
mắt. là hoa pensée
anh hôn em. rất vội
 
starbucks. la madeleine
hay tùng xưa. chiều tím
ly café latté
môi. miệng. tình. ngọt lịm
thời gian. ơi. thời gian
phố còn đây. phố cổ
còn đà lạt. sài gòn
và washington. nỗi nhớ
nhưng ta rồi đi qua
có bao giờ trở lại
như mây trên phố kia
tan thành mưa. ướt xối
xuống mái tình. hư vô
tháng 8. 2005
NXT

  

Friday, March 27, 2026

THƠ HAIKU. BASHO

Hoa Văn
 
Haiku. Basho
   

               Đêm mùa hạ rung động vì tiếng vỗ của một bàn tay,

              cũng như thiên nhiên tự nghìn xưa cất tiếng vì cái nhảy 

             của một con ếch. Và Basho đã “nghe” tiếng vang của nước,

             tiếng vỗ của bàn tay mà giác ngộ được Thiền

     Bài haiku vỏn vẹn ba dòng thơ nhưng mở ra một không gian đầy thiền vị, nơi thời gian dường như ngừng lại để người đọc lắng nghe nhịp thở tinh tế nhất của thiên nhiên:
"Cỏ mờ sương
Nước tĩnh lặng
Ánh chiều tà"
    Bài thơ haiku của Basho mang đến một khoảnh khắc tinh khiết, nơi thiên nhiên và con người như tan vào nhau trong sự tĩnh lặng tuyệt đối. "Cỏ mở sương", "nước tĩnh lặng", "ánh chiều tà" - ba hình ảnh không lớn lao, kì vĩ nhưng lại gợi lên một bức tranh thiên nhiên với nhịp sống âm thầm, sâu lắng, nơi từng chuyển động nhỏ của tự nhiên cũng trở nên thiêng liêng. Ẩn sau lớp vỏ giản dị ấy là cảm quan triết lý đậm chất Thiền: mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong mối tương giao hài hòa, cái hữu hạn của đời người giao thoa với cái vô hạn của vũ trụ. Như thơ tượng trưng phương Tây từng nhận ra mối “tương giao” giữa âm thanh, màu sắc và mùi hương, thơ haiku cũng hé mở những kết nối thầm lặng giữa vạn vật. Thơ Basho gợi nhắc người đọc rằng cái đẹp không nằm ở sự riêng lẻ mà ở mối liên hệ hài hòa giữa các tồn tại. Khi đọc thơ, ta không chỉ ngắm cảnh mà còn được nhắc nhở về vị trí của mình trong dòng chảy vô tận của vũ trụ – một mắt xích khiêm nhường nhưng không thể thiếu.
HV

NHÀ ANH Ở

Huỳnh Liễu Ngạn
 
Ổi vườn nhà
 
nhà anh ở về phía đông thành phố
cuối mùa thu lá rụng kín đầy vườn
bầy kiến nhỏ trong lùm cây thỏ thẻ
những nỗi buồn khi đêm lạnh trăng buông
 
nhà anh ở có một cây ổi ngọt
gần hết năm trái trỉu nặng thấy thương
con sóc nhảy lên cao rồi nhảy xuống
chạy tung tăng khắp đám cỏ vô thường
 
buổi sáng sớm có cơn mưa bất chợt
như mưa phùn rơi nhẹ dưới hàng cây
trời lành lạnh làm vai em nghiêng xuống
nghiêng thật đầy từng giọt nhớ lên tay
 
nhà anh ở về phía đông thành phố
mấy chục năm hoa vẫn nở trên cành
mà con chim chiều chiều không về nữa
nên anh đành đứng ngó mãi trời xanh.
11.11.2025
HLN 

Thursday, March 26, 2026

PHAN NI TẤN GIỮA CHỢ ĐỜI

Lê Chiều Giang
 
 
Tranh Nghiêu Đề
 
Phan Ni Tấn
 
“…Một góc đen thui một góc đời 
Tôi nằm trong đó ngủ buồn chơi
Nửa đêm trời lạnh thân co quắp…”
Phan Ni Tấn
 
Nhóm chúng tôi có một nơi để Cafe không cần hò hẹn nhưng lúc nào ghé quán cũng đều gặp đúng nhiêu đó bạn bè, những khuôn mặt vừa thân mật, vừa méo mó, lại có đôi khi thất thần… Những gương mặt đã được nắng và gió vẽ ra để minh hoạ cho một đời sống trầm luân đầy nhọc nhằn, khốn khó sau biến cố năm 1975.
Tên quán Cafe đẹp và thơ mộng như Kim Oanh, cô chủ quán đã cùng gia đình bỏ hết trang trại cafe bát ngát ở Ban Mê Thuột, chạy về định cư tại khu Thị Nghè Sài Gòn. “Cafe Ban Mê"
Cafe Ban Mê. Nơi anh Nghiêu Đề và tôi gặp nhạc sĩ Phan Ni Tấn, người bạn thân của gia đình Kim Oanh từ những ngày anh còn ở cố quận. Phố Ban Mê.
Trông anh rất “ngầu" với cái chất gió bụi của đời sống lang bạt không cửa nhà “hộ khẩu”, cộng thêm cả một chút bất cần trong ánh nhìn lặng lẽ.
 
“...Đêm bến xe Xa Cảng Miền Tây
Trời hiu hiu mát nằm ngủ say
Sáng ra quờ quạng tìm mục kỉnh
Mắt còn đây, mục kỉnh đã bay…”
 
“...Nửa đêm nằm mộng thấy trời xanh
Trên thân tôi tàu chạy vòng quanh
Giật mình tỉnh giấc tai còn thoáng
Một tiếng còi tàu rúc lạnh tanh…”
[Ga xe lửa chợ Bùng Binh / Thơ PNiTấn]
 
Chúng ta có cả trăm bè bạn lưu lạc tha phương khắp nơi, không “hộ khẩu”. Nhưng chẳng phải ai cũng là Thi sĩ.
Thi sĩ Phan Ni Tấn có những đêm “Ngủ trên cành cây “, đã như một Thiền giả lang thang trong thiên hạ.
“...Làm sao ai biết có ngày này
Người ở thành phố ngủ trên cây
Nửa đêm xuân xiếc về ngang hỏi:
Hết chỗ rồi sao ông ngủ đây…”
[ Thơ PNiTấn ]
 
   Chúng tôi một nhóm mỗi tuần gặp nhau vài lần như thế, gặp nhưng không hề than van kể lể, dù ai cũng đang sống dở chết dở… Hớt hải chạy theo những chuyến xe buýt chạy như điên khắp Sài Gòn để bán vé xe buýt như chị Thuỵ Vũ hay chất trên chiếc xe đạp cũ kỹ một thùng gỗ nặng xà bông gội đầu đi bỏ mối khắp chợ như anh Nghiêu Đề…
Sống trong đói rách nhưng chúng tôi đành mừng rỡ, chúng tôi đành cười vui mỗi khi gặp lại bạn bè. Thơ nhạc như đã làm mờ đi những lo âu, và sợ hãi. Nói như anh Nguyễn Đình Toàn “Sau 1975, nếu không có một nhóm để ca hát rong chơi như chúng tôi, chắc là tất cả đã không ai còn sống sót…”
Và chúng tôi đã không ai thèm “chết”, dù đã có khi từng bị Phan Ni Tấn hăm dọa trong ca khúc “Gõ Quan Tài”, bản nhạc anh phổ từ thơ Đoàn Bằng Hữu.
Thật lạ, chỉ khi nhìn anh Phan Ni Tấn ôm đàn, nhắm đôi mắt mờ câm say sưa hát, tôi mới nhận ra chính anh. Tôi nhìn ra người Nhạc sĩ mang sức sống mạnh mẽ và vô cùng quyết liệt với đời.
“...Hai tấm ngắn
Bốn tấm dài
Tôi hì hục đóng
Quan tài cho tôi…”
 
Chúng tôi đã không ai muốn chết. Tôi nhớ sau khi nghe bản nhạc “Gõ Quan Tài” của anh, tất cả bạn bè đều ngồi im lặng lẽ. Chúng tôi cùng suy ngẫm, tưởng tượng ra cái “đẹp” trong nỗi chết. “Đẹp” nhưng đầy oan khiên đã bàng bạc khắp trong những lời thơ. Cái tài tình của Phan Ni Tấn là anh đã đàn ra đúng tiếng đinh được gõ xuống áo quan. Tiếng đinh chát chúa đóng xuống nhịp nhàng qua những giây đàn, nghe vừa bi thảm vừa rùng rợn nên chẳng thể nào chúng tôi quên.
Và kể từ đó, sau khi được nghe những bài thơ mới anh đọc, “Gõ quan tài" luôn là bản nhạc được yêu cầu anh hát lại nhiều lần.
 
Anh ôm đàn qua Làng Báo Chí, anh hát hò bên Cư Xá Thanh Đa…Người nhạc sĩ “vô sản chuyên chính”, không cửa không nhà nhưng đã cùng bạn bè gặp nhau khắp mọi nơi, mọi chốn.
Nhưng không phải chỉ toàn là rong chơi ca múa, anh còn phải kiếm sống bằng nhiều thứ nghề mà anh chưa làm bao giờ.
“...Vá ruột xe đạp tưởng dễ ăn
Bắt tay vào mới thấy khó khăn
Mười phút cậy mới ra lớp vỏ
Cô em hiền hậu cũng phải nhằn…”
 
“...Hộp thuốc lá bạn tôi đóng cho
Trong hộp đựng gói nhỏ, gói to
Một hôm hết thuốc tiền cũng tuốt
Vỗ bụng cười lấy nước làm no…”
[ Thơ PNiTấn ]
 
“Văn chương” hơn một chút anh ra bán sách cũ
“...Tôi bán sách cũ trong Chợ Sách
Một hôm “dị khách” ghé qua hàng
Lật trang thơ cũ oang oang đọc
“Nam quốc sơn hà…”
Khách cười vang.
[ PNiTấn với Bùi Giáng]
 
    Đám bạn bè chúng tôi vừa lam lũ chuyện áo cơm, vừa gượng cười khi gặp gỡ, lại vừa âm thầm tìm đường trốn thoát khỏi quê hương. Quê hương đã mất trắng của chúng tôi.
Bạn bè đã tản mát muôn phương, đã chẳng biết ai còn ai mất…
 
Năm 1992, anh Nghiêu Đề và tôi gặp lại anh Phan Ni Tấn ở Canada. Có thêm hiền thê, anh sống an nhiên và hạnh phúc.
Thơ và nhạc anh tiếp tục sáng tác rất nhiều, anh vẫn ôm đàn hát say sưa, vẫn chìm đắm đọc những bài thơ cũ, mới…
 
Trên đường bay về lại San Diego, tôi thấy như thiêu thiếu, như mất mát một điều gì. Phải chăng cái hình ảnh lang thang, mịt mù gió bụi của Phan Ni Tấn mới đúng là người mà chúng tôi phải bay rất xa để ghé thăm?
Tôi ước gặp lại anh ở quán Cafe Ban Mê của Kim Oanh cùng những người bạn cũ, ngồi nghe anh hăm dọa “Gõ quan tài". Tôi thèm nghe lại giọng đọc thơ khan khan, về đời sống rất thực mỗi ngày của anh khi còn lang bạt khắp Sài Gòn Chợ Lớn…
 
 
Khi nói điều này với anh Nghiêu Đề, tôi được nghe lời anh mắng mỏ: “Giữ hoài một quá khứ, không có nghĩa là muốn nhốt mãi ai vào chốn oan khiên.”
Nhưng đâu phải chỉ mình tôi hướng về những ngày tháng cũ? Anh Phan Ni Tấn cũng đã viết ra, đã nhớ lại.
“...Chút nước dột lại thấm vào nỗi nhớ
Mái hiên người che thân tôi nằm trọ
Một tiếng chim cũng xót dạ vô cùng
 
“...Nhớ đôi bạn nhà ở lưng chừng đồi
Những bậc cấp dẫn luồn qua mưa nắng
Theo chiều xuống chân bước lên nằng nặng
Ghé thăm rồi mai biết giạt về đâu…”
 
“...Gió lại thổi mùa đông qua nỗi nhớ
Gặp đôi bạn quê người chưa hết ngợ
Lại như núi rừng như đất nước trôi xa"
[ PNiTấn tặng Nghiêu Đề và Giang]
 
LÊ CHIỀU GIANG
 

CUỘC MỜI

Hoàng Xuân Sơn
 
Cải vàng bên sông
 
Hoàng núi
Lúi húi
                    [Vừa ]
Trưa
Hốt nhiên thấy mệ bán dưa vẫn ngồi
Cải vàng
Từ độ bông tươi
Bến sông rực gọi một trời riêng xanh
Mùa xuân
Ai ơi
Thuận thành
Chúc nhau mến đẹp
Khúc quành nhân gian
Mệ ngồi từ thuở khai nhan
Nếp hương khăn áo
Thơm
Tràn
Lục vong
 
17.3. 26
@hxs

  

THÁNG BA. Ở HOKKAIDO

nguyễnxuânthiệp
 
Hokkaido in Spring
 
tháng ba rồi đó em
tuyết đã tan trên vùng bắc hokkaido. nước nhật
hoa fuki nở lại
và những vị bụt tí hon. xuất hiện
mang cơm đến cho những người nghèo
mang lửa ấm cho những ngôi nhà lạnh lẽo
và đồ chơi cho trẻ nhỏ
cũng vậy
anh mong thơ anh
là chỗ an trú cho người
NXT
2020

KHI THƠ TRỞ THÀNH LÁ CỜ CHO MÂY TRẮNG

Nguyên Giác Phan Tấn Hải
 
 
Lê An Thế. California 2026. Photo Phan Tấn Hải

Lê An Thế. tác phẩm
 
   Mây trắng là hình ảnh của cái vốn không có hình dạng sắc màu nhưng biến hiện ra vô cùng hình dạng sắc màu. Mây trắng là hình ảnh của vô thường, của sinh và diệt không ngừng, của xa lìa tất cả các nhãn hiệu bất kể là căn cước của da vàng hay da trắng, của Nam hay Bắc, của Việt hay Tây, Tàu, Mỹ, Nhật... Mây trắng là hiển lộ của tự do, của bình an. Nơi mây trắng không có bạo lực, không có níu kéo buộc ràng hay uốn nắn gắng gượng. Thơ của Lê An Thế là thơ của những ước mơ mây trắng, là lá cờ của mây trắng thong dong như thế.
Nhà thơ Lê An Thế trong các năm gần đây đã ấn hành hai thi tập để tặng. Thơ không bán, vì thực ra không mấy ai làm thơ để bán. Khi Lê An Thế về thăm Quận Cam những ngày đầu tháng 3/2026, anh mang theo hai thi tập -- Vòng Không, ấn hành năm 2022; và Bản Thảo Từ Những Khoảng Trống, ấn hành năm 2025 -- để tặng một số bằng hữu.
Tôi nhìn bìa tập thơ Vòng Không, một vòng tròn biểu tượng của Thiền Tông, và năm ấn hành, năm 2022 là năm của cao điểm đại dịch COVID-19, nghĩ ngay tới hình ảnh một nhà thơ luôn luôn sống cận kề nỗi chết. Bản thân tôi từ đầu năm 2020 tới ba năm sau vẫn luôn luôn tự thúc giục mình phải viết khẩn cấp điều này hay điều kia, vì luôn luôn tự ý thức rằng mình có thể sẽ chết trong đại dịch. Có lẽ, theo tôi nghĩ, có lẽ Lê An Thế làm những bài thơ trong tập Vòng Không cũng trong tâm thức như thế. Một vòng luân hồi vô tận của cõi này nhưng trong thực tướng là một vòng của rỗng rang, vô tướng. Không thấy và không sống được với thực tướng là Không thì sẽ kẹt mãi ở cõi này.
Bài thơ đầu trong tập Vòng Không là bài Bát Nhã nơi trang 5. Nơi đây, chúng ta sẽ giữ cách viết của nhà thơ Lê An Thế, dùng chữ hoa cho tựa đề bài thơ, và sẽ giữ khoảng cách như anh trình bày.
 
BÁT NHÃ
Nếu đi ngược lại
tôi sẽ đẩy mẹ xa bố trong đêm tạo hình
 
Tôi sẽ không biết tên những quốc gia những màu cờ
tôi sẽ không biết tên những dòng sông những ngọn núi
 
tôi sẽ không biết người
tôi sẽ không biết tôi
 
Nếu đi ngược lại
tôi có thể đu trên cành
thèm ăn trái ngọt
 
Nếu đi ngược lại đêm nay
tôi sẽ nghe
dĩa CD tụng kinh Bát Nhã cho đến sáng.
-- California Jan 10, 2022
 
   Tôi không hiểu hết ý thơ của Lê An Thế. Tôi chỉ hiểu theo cảm nhận riêng của mình. Tôi cũng không đủ trình độ học thuật để nói về các trường phái thi ca. Tôi chỉ nhớ rằng chính trong tháng 1/2022 là những chuyển biến kinh hoàng của đại dịch tại Việt Nam và Hoa Kỳ, khi nhiều người từ giã cõi này. Tôi chỉ viết theo cảm nhận tự nhiên của một người sống trong làng văn nhiều thập niên, và trước nhất là từ vị trí của một người đời thường đang hít thở, vui buồn, đi đứng, viết và đọc, cười và khóc trong cõi này.
Tôi đã đọc thơ Lê An Thế nhiều thập niên. Anh mấy năm gần đây đã về hưu, chọn về sống ở Việt Nam và thỉnh thoảng về thăm Hoa Kỳ. Lê An Thế tên thật Hoàng Chính Nghĩa, từng có bút danh khác như Lê Tôn, Lê Bi... Tiểu sử in sau một thi tập viết về anh: Sinh hoạt báo chí và văn học từ 1976 tại California. Đã cộng tác trực tiếp các tạp chí Quê Hương (1976), Việt Nam Hải Ngoại (1977), Người Dân (1989), Hợp Lưu (1991), Đối Thoại (1992). Chủ trương nhà xuất bản Bố Cái (1977) và Trăm Hoa (1991).
Các tác phẩm đã xuất bản:
- Quê Hương và Lưu Đày, tuyển tập thơ song ngữ Việt Mỹ, in chung với Thục Ngạn, Trần Mộng Tú, Du Tử Lê (1976).
- Tuyển Tập Thi Ca Việt Nam 1975-1977, nhiều tác giả.
- Ngẩng Mặt Nhìn Trăng Sáng (1978), nxb Bố Cái, đoản văn, tùy bút, in chung với Hoàng Khởi Phong.
- Thơ Tình Cùng Trời Đất (1980), thơ nxb Bố Cái.
- Thơ Trích, 1991, thơ nxb Người Dân.
- Địa Chí Của Một Người, 1996, thơ nxb Tân Thư.
- Thơ Lê An Thế, 2009, thơ tự xuất bản
- Một Mình, 2015, thơ tự xuất bản
- Vòng Không, 2022, thơ tự xuất bản.
- Bản Thảo Từ Những Khoảng Trống, 2025, thơ tự xuất bản.
 Thơ của Lê An Thế có nhiều hình ảnh làm độc giả nghĩ tới Kinh Phật. Thí dụ, chúng ta quen nghe nói tới bể khổ. Và khổ đây là không riêng một ai. Nơi trang 7 tập Vòng Không (VK), có bài thơ chỉ 4 dòng như sau.
 
BIỂN MẶN
Nếu biết khóc
Nước mắt mỗi người sẽ tìm ra sông
Cứ yên tâm
Chúng ta cùng làm biển mặn
-- California Feb 2022
 
Không chỉ hình ảnh bể khổ, chúng ta cũng từng đọc thấy rằng toàn bộ ba cõi, sáu đường cũng là trùng trùng khổ ách. Lê An Thế viết một cách thơ mộng trong bài thơ 3 dòng ở trang 11 của VK. Cũng ngay giữa mùa đại dịch.
 
CÁCH KHÓC
Tôi dồn chữ
thành chiếc thuyền giấy
để tiếng khóc trôi tới chân trời.
-- California Feb 2022
 
Nơi nào là tận nguồn của những trận mưa trong cõi này. Có thể nhà thơ muốn nói tận nguồn của những trận mưa nước mắt? Lê An Thế đã về thăm Việt Nam, đi dọc Nam và Bắc, và nhiều thập niên anh đã đi nhiều nơi ở Hoa Kỳ, chỉ để tìm chỗ mưa rơi, như bài thơ 6 dòng nơi trang 22 tập VK.
 
CHỖ MƯA RƠI
Tôi bỏ Hà Nội Đà Nẵng Đà Lạt Nha Trang Saigòn
tôi bỏ Việt Nam
tôi bỏ New York San Francisco San Diego
tôi bỏ quận Cam tôi bỏ nước Mỹ
đi ngược lại
chỉ tìm chỗ mưa rơi.
 
Tuy nhiên, Lê An Thế chỉ là một nhà thơ và đôi khi anh uống rượu, khi anh muốn xé ra ngàn mảnh cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai rồi đắp vào trang thơ để sẽ là cánh diều bay. Bạn đọc nào có thể nhớ nơi nào trong Kinh Phật ghi rằng hãy buông bỏ cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai để sẽ không còn chút gì dính tới ba cõi, sáu đường này. Bài thơ 4 dòng nơi trang 35 của tập VK như sau.
 
ĐÊM NAY UỐNG CẠN RƯỢU
Xé thời gian thành ngàn mảnh
ném xuống trang thơ
tôi sẽ là cánh diều
không bao giờ chạm đất.
-- Dec 31st, 2021
 
Rồi có lúc, nhà thơ Lê An Thế thấy rằng anh đi loanh quanh rồi cũng không lìa được bể khổ, kể cảnh khi anh níu lấy Thiền, như bài thơ 11 dòng ở trang 53 của tập VK, chép lại các khoảng cách:
 
HÀNH THIỀN
Gánh nặng những cánh bướm
là Trang Tử
 
lúc muốn đi tu
tôi trèo lên đứng trên vai mình
vẫn là cái khổ
 
tôi vào chùa
vai Phật quá cao
sư trụ trì quá khó
 
Năm đó tôi bỏ Phật ở lại chùa
   và đi hành thiền loanh quanh California
 
vẫn chưa đi đến đâu.
 
Dĩ nhiên, các bạn đều có thể nhớ rằng, khi Thiền tập mà nói rằng đến đâu cũng đều chưa phải, bởi vì người thực sự Thiền tập đúng sẽ thấy rằng có đang có bước đi Thiền, nhưng thấy không hề có ai đang Thiền và do cậy cũng không gọi là đi đến đâu, khi cả hai bờ đều biến mất. Bài thơ hai dòng nơi trang 54 của tập VK ghi như sau.
 
Bây giờ tôi đã quên
Phật ở chùa nào?
-- California Feb 2022
 
Bây giờ chúng ta có thể chú ý tới một bài thơ xuôi, dài 6 trang, từ trang 93-98 trong tập VK, tựa đề "30 THÁNG TƯ 2019" trong này Lê An Thế, một người từng tham chiến trong quân lực VNCH và ra đi kịp cuối tháng 4/1975, ghi trong bài thơ dài khi anh nhìn lại, viết tại Sài Gòn vào ngày 30 tháng tư 2019. Nơi đây sẽ trích như sau.
 
Trích từ trang 94:
  Có lúc Việt Nam và tháng tư là một. Có lúc tôi và cơn mưa sớm tháng tư Việt Nam là một.
  Tháng tư 2015, tôi quay trở lại những vùng chiến tranh chúng tôi đã từng sống. Rừng núi Việt Nam vẫn thăm thẳm. Một lần tôi tới vùng ngã ba biên giới định tìm nơi Đ đã bị một viên B40, chỉ vài tháng sau khi đến đơn vị. Thân xác cháy đen. Thoát khỏi Huế biến cố Mậu Thân 1968, tôi, Đ và mấy người bạn về Saigon tình nguyện vào lính cùng ngày, tốt nghiệp cùng khóa. Chỉ riêng tôi và Đ may mắn cùng một ngày trình diện ở Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, Pleiku. Nhưng sau đó, không tin tức, không thư từ. Hai đơn vị chúng tôi có lúc chỉ cách nhau vài chục cây số đường chim bay. Chỉ biết Trung đoàn 42 Biệt lập của Đ ở Dakto đụng độ nhiều lần ở cuối dãy Trường Sơn, ngã ba biên giới. Cho đến khi, nửa năm sau, mới biết tin Đ chết qua lá thư của một người bạn gởi từ Sàigon. Không cơ hội đưa tiễn Đ lần cuối. Chỉ biết Đ thành cố thiếu úy. Hưởng dương 20 tuổi.
 
Trích từ trang 96:
 Trời tháng tư. Vẫn xanh.
 Tháng tư năm nay rất nóng. Không thấy những cơn mưa. Tôi nhớ vết đạn trên ngực trái H khi chỉ kịp về thăm chốc lát ở Tổng y viện Cộng Hòa vào 1971. Cũng là tháng tư. 17 tháng tư. Ngày H mất. Sư đoàn 5 Bộ Binh. H bị thương tại chiến trường sát biên giới Kampuchia. Không có phương tiện tải thương. Nhiễm trùng. Cả tuần sau mới mang được về bệnh viện thì đã trễ. Cố trung úy. Hưởng dương 23 tuổi. Oan khiết. Một phần trong tôi đã chết với Đ. Một phần trong tôi đã chết với H. Một phần trong tôi đã chết với những đồng ngũ chết trận. Những cái chết trận, tôi càng về sau tôi càng thấy, dù ở bên này hay bên kia, dù kết quả trận chiến thế nào, vẫn oan khiết, vẫn là bên thua cuộc.
 
Trong tận cùng, Lê An Thế trả lời thế gian này bằng thơ. Anh ném chữ lên bầu trời để chữ hóa thành những cánh diều bay vô tận, nơi rất cao không có gì để buộc ràng vào cõi này. Và khi anh cúi đầu nhìn vào trang giấy, đó là những gì anh đã chôn vào nét mực. Tập thơ Bản Thảo Từ Những Khoảng Trống (BTTNKT) có bài đầu tiên, dài chỉ 3 dòng, nơi trang 5 như sau.
 
NGOẠI CẢM THI
Nhỏ nước mắt vào thơ
tôi đã tìm ra, đúng
mộ mình.
 
Thế rồi vào những ngày mưa Sài Gòn, khi anh thức dậy nửa khuya và hòi cột điện trước nhà, anh ghi lại bài thơ 2 dòng nơi trang 16 của tập thơ BTTNKT, như sau.
 
LÚC MƯA 2 GIỜ SÁNG, LÀM VIỆC VỚI CỘT ĐIỆN TRƯỚC NHÀ
Gác nhà tao
sao mày còn quá nhiều nước mắt?
 
Rồi Lê An Thế có lúc nghĩ về cái chết của anh: khi nhà thơ từ trần, chữ có thể là cái còn lại duy nhất của anh, nơi đó anh nghĩ rằng sẽ có người đọc thấy mây trời, như bài thơ 4 dòng ở trang 40 thi tập BTTNKT, như sau.
 
DI CHÚC, bản 1
Khi tôi chết
hãy chôn tôi với chữ
đọc thơ tôi
là đọc được mây trời.
  
Lê An Thế không chỉ nhìn thấy chữ của anh sẽ là (hay đang là) mây trời. Anh cũng nhìn thấy chữ anh không dị biệt với mưa, như bài thơ 4 dòng nơi trang 54 của tập BTTNKT, như sau.
 
DỊCH THƠ
Đôi khi tôi dịch thơ
ra tiếng mưa rơi
chữ và mưa
như 2 giọt nước.
 
Và rồi tận cùng, Lê An Thế nhìn về thế giới đầy những chiến tranh này, anh nói trong bài thơ 1 dòng nơi trang 98 của tập BTTNKT như sau.
 
THẾ GIỚI CÒN CHIẾN TRANH
Lá cờ tôi là mây trắng.
 
Mây trắng là hình ảnh của tự do, của vô thường, của vô sinh diệt trong cõi sinh diệt, là hình ảnh xa lìa tất cả các nhãn hiệu. Mây trắng không ai chụp bắt được để đưa vào chai, vào lọ, vào bình để dán nhãn hiệu. Mây trắng vuột ra khỏi tất cả các bàn tay muốn nắm bắt lấy. Mây trắng không hề phân biệt cần phải trụ lại nơi đỉnh núi này hay cần phải xa lìa đỉnh núi kia, bởi vì mây trắng không có bờ này hay bờ kia... Nhà thơ Lê An Thế nhìn thấy thơ của anh là mây trắng như thế.
Hai tập thơ của Lê An Thế có thể được các nhà bình luận uyên bác phân tích theo một cách khác, mà tôi không đủ trình độ để hình dung, thí dụ đối chiếu với thơ haiku của Nhật Bản hay thơ các thời kỳ hậu chiến của Hoa Kỳ. Tôi chỉ tự thấy mình đang đọc thơ Lê An Thế, y hệt như người nhìn vào chữ và thấy mây trắng và những cánh diều hiện ra trên bầu trời, nơi xa lìa tất cả những gì xung đột nơi cõi này giữa các lá cờ.
PTH